Chào tự do
Chào tự do' - bài hát ra đời từ địa ngục Côn Đảo
Chào tự do' - bài hát ra đời từ địa ngục Côn Đảo
Ngày 20.7.1962, tức là tròn 11 tháng sau ngày tôi bị bắt. Ăn xong, chưa kịp uống nước thì chúng tôi đã bị lôi ra xe. Chiếc xe bít bùng hú còi inh ỏi, chạy thẳng ra cầu tàu rồi lùa chúng tôi lên tàu".Ông Vịnh nhớ lại chuyến tàu ấy chở nhiều anh em hoạt động bí mật, công khai bị bắt, trong đó có cả những tử tù như ông. Trên tàu, cũng có một số người từng ở tù Côn Đảo nhiều năm, sau bị đưa trở lại Chí Hòa vì một lý do nào đó, giờ lại bị giải ra đảo lần nữa. "Chúng tôi hoàn toàn chưa quen biết nhau", ông nói và kể tiếp: "Nhưng không hiểu sao lại trò chuyện rất thân mật, gần như chẳng có một chút e dè nào cả".Ông nhớ rất kỹ, ra đến nơi, họ đưa ông đến Khu Tu dưỡng, gồm 3 phòng của Trại Cộng Hòa: phòng 2, phòng 3 và phòng 4. Thời điểm ấy, phòng 4 đang tu sửa lớn, nên quản ngục tập hợp tù lại, ngoại trừ 13 án tử hình "chính trị quốc gia" giam ở phòng 3, còn lại đều bị dồn về phòng 2. "Các cánh cửa trong trại đóng ầm lại, để tù nhân trong các phòng giam không thể thấy được những gì diễn ra ngoài sân. Sau này tôi mới biết đó là cách họ đối phó với những người bị xem là nguy hiểm. Thì ra, họ đã liệt chúng tôi vào thành phần "nguy hiểm". Sau đó, họ còng chân các tử tù mới ra không thời hạn", ông kể.Ông bị đày từ Chí Hòa ra Côn Đảo, một người đồng đội từng hát: "Vùng lên, nhân dân miền Nam anh hùng!" sau khi bị tòa án ngụy quyền Sài Gòn tuyên án tử hình. Tôi hỏi: "Khi biết bị đày ra Côn Đảo, ông nghĩ gì?". Ông cười nhẹ: "Tôi chỉ nghĩ mình sẽ sống, vì chưa xong việc. Nếu số phận cho sống, thì phải biến nơi ấy thành trường học".
Nhà tù Côn Đảo những năm 1960 là nơi giam giữ những người bị coi là "cứng đầu" nhất. Ẩm thấp, ngột ngạt, mùi mồ hôi, máu và muối hòa lẫn. "Cửa sắt mở ra là đòn roi. Ai mới đến đều bị bắt hô khẩu hiệu ủng hộ chính quyền", ông hờn căm. "Chết thì dễ. Sống mới khó. Sống để giữ niềm tin, để tổ chức, để chờ ngày đất nước đổi thay", đó là triết lý giản dị mà ông theo suốt đời, sống không phải để chịu đựng, mà để chứng minh sức mạnh của niềm tin.Ông mải mê kể thời điểm ấy ở Khu Tu dưỡng, phong trào tự học văn hóa của các tù nhân lên rất cao, cả về số lượng và chất lượng. Môn toán học, nhất là phép chứng minh hình học là cơ sở của phép biện chứng; môn sử học là cơ sở của quan điểm lịch sử. Những tử tù chính trị nhìn thấy tương lai tươi sáng của sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, tự nhiên quên đi những tủi nhục tạm thời hiện tại, lăn mình vào học văn hóa mà thực chất là trau dồi bản lĩnh công tác cách mạng.Sau thời gian bị khổ sai, ông được đưa về trại giam tập trung. Chính tại đây, các tù nhân bí mật mở lớp học, truyền nhau tin tức từ đất liền. Tôi hỏi: "Ông có bao giờ thấy tuyệt vọng?", ông nói: "Không. Vì tôi tin sẽ có ngày tự do, hòa bình sẽ lập lại". Những ngày lao động khổ sai ngoài mỏ đá, ông và anh em cùng nhau học tập.
Từ 1967 - 1975, ông bị biệt giam trong những hầm đá, chuồng bò và chuồng cọp, nơi khủng khiếp nhất của nhà tù Côn Đảo. Tôi hỏi: "Ông nghĩ gì khi họ gọi đó là địa ngục?", ông nói: "Địa ngục thật đấy. Nhưng địa ngục cũng có anh hùng. Mỗi người sống sót ở đó đều là ngọn đèn trong bóng tối".



