Chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận cho Chiến dịch Tây Nguyên
Xác định Tây Nguyên là địa bàn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với chủ trương xây dựng lực lượng tại chỗ vững mạnh, rộng khắp, từ năm 1964, QUTƯ và Bộ Quốc phòng đã đưa một số đơn vị chủ lực vào chiến trường Tây Nguyên.
Đặc biệt, trước khi ta mở Chiến dịch Tây Nguyên, để tạo ưu thế về lực lượng, phương tiện cho đòn mở đầu tiến công chiến lược năm 1975, Bộ Chính trị, QUTƯ đã chỉ đạo điều động đến Tây Nguyên một lực lượng lớn gồm 4 sư đoàn bộ binh (10, 320A, 316 và 968), 4 trung đoàn bộ binh (95A, 95B, 25 và 271), 5 trung đoàn pháo mặt đất, cao xạ, 1 trung đoàn xe tăng, 1 trung đoàn đặc công, 1 trung đoàn thông tin và một số đơn vị vận tải, tạo ra ưu thế vượt trội lực lượng cả về số lượng và chất lượng so với quân địch.
So với lực lượng của đối phương, lực lượng của ta trên chiến trường Tây Nguyên gấp 3-4 lần, tạo nên thế và lực của ta mạnh hơn địch rất nhiều. Đây là một trong những yếu tố trực tiếp đưa Chiến dịch Tây Nguyên đến toàn thắng. Nhờ được tăng cường lực lượng, quân và dân Tây Nguyên đã triển khai lực lượng chính trị, quân sự, cả ba thứ quân vào một thế trận chiến lược và cơ động trên toàn chiến trường, tạo thế cài xen giữa ta và địch trên một không gian rộng, vừa thực hiện được chia cắt, vây hãm địch, vừa tạo ra thế chủ động tiến công địch.
Để tạo thế trận chiến lược cho Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và QUTƯ đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị tiến hành một loạt các biện pháp nghi binh rất công phu, tích cực để thu hút và giam chân khối chủ lực cơ động của địch. Trên toàn chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị, QUTƯ đã xây dựng thế trận chiến lược tập trung lực lượng lớn ở Huế và Đông Bắc Sài Gòn, buộc đối phương phải căng ra ở hai đầu Nam, Bắc để giữ Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, mở ra khu vực rộng lớn ở miền Trung, Tây Nguyên.
Từ đầu tháng 3-1975, phối hợp với Chiến dịch Tây Nguyên, quân và dân ta ở Mặt trận Trị - Thiên, Mặt trận đồng bằng Khu 5 đã đẩy mạnh hoạt động tiến công địch. Quân đoàn 2 mở chiến dịch tiến công phía Tây thành phố Huế. Sư đoàn 2 và lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 5 mở đợt hoạt động ở phía Tây và Tây Nam thành phố Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ. Ở Nam Bộ, LLVT cách mạng cũng liên tiếp tổ chức các trận tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng thuộc tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông và 12 xã phía Nam Long An... Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chiến trường đã tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển tiến công thuận lợi, giành thắng lợi nhanh chóng, thời cơ giải phóng dải đất Trung Trung Bộ xuất hiện.
Để chuẩn bị thế trận chiến dịch, Bộ Chính trị, QUTƯ chỉ đạo Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức cho các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với LLVT, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên thực hiện các hoạt động tác chiến nghi binh, tập trung chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum; tổ chức tuyên truyền nghi binh ta sẽ đánh lớn ở Bắc Tây Nguyên. Địch tin chắc ta đánh lớn ở khu vực này, do đó đã tập trung phòng thủ, đối phó ở Bắc Tây Nguyên là chính. Trong khi đó, ta chỉ để lại Sư đoàn 968 ở Bắc Tây Nguyên, bí mật đưa 3 sư đoàn (10, 320A và 316), các đơn vị binh chủng tăng thiết giáp, pháo binh, thông tin, đặc công vào Nam Tây Nguyên.
Thực hiện sự chỉ đạo của QUTƯ “phải nghi binh rất nhiều để làm cho địch tập trung sự chú ý vào việc bảo vệ phía Bắc Tây Nguyên”(5), Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A không sử dụng vô tuyến điện để liên lạc. Toàn bộ mật danh vô tuyến liên lạc để lại cho Sư đoàn 968 giữ mối liên lạc thường xuyên như cũ, làm cho địch vẫn tưởng 2 sư đoàn chủ lực này vẫn ở sát Pleiku và Kon Tum. Trung đoàn Công binh 7 kết hợp với dân công triển khai rầm rộ mở các trục đường ở Bắc Tây Nguyên để thu hút sự chú ý của địch, làm cho chúng càng tin rằng ta đang chuẩn bị tiến công hướng này. Trong khí đó, công binh ta đã hoàn thành mạng đường cơ động chiến dịch hướng tới Đức Lập, Gia Nghĩa và Buôn Ma Thuột.
Mặt khác, để thực hiện nhiệm vụ nghi binh Bộ Tổng Tham mưu giao, cùng với việc sử dụng toàn bộ mật danh vô tuyến điện của Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A để liên lạc thường xuyên với Bộ, Sư đoàn 968 bất ngờ sử dụng lực lượng đánh chiếm một đoạn Đường 19, cắt đứt tuyến vận chuyển tiếp tế của quân đội Sài Gòn, hình thành thế bao vây chia cắt Pleiku, cô lập quận lỵ Thanh An, Lệ Ngọc, buộc địch huy động lực lượng lên giải tỏa và bảo vệ đường giao thông. Ngoài ra, Sư đoàn 968 còn tổ chức chuẩn bị trận địa ở Điểm cao 946, Bắc Ngọc Quận (Kon Tum) và Bắc Đường số 5A (Pleiku), sẵn sàng bắn vào thị xã Kon Tum, sân bay Cù Hanh và La Sơn để thu hút địch.
Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, QUTƯ, trực tiếp là Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã thực hiện thành công các hoạt động nghi binh, tạo thế, góp phần căng kéo, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận chủ lực địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ và thời cơ thuận lợi cho các lực lượng trên các hướng chủ yếu tạo nên sức mạnh áp đảo, đẩy mạnh tiến công.
Công tác nghi binh đạt hiệu quả cao, tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển nhanh chóng, giành thắng lợi trong các trận then chốt quyết định, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, mở ra thời cơ thuận lợi để quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Có thể khẳng định, chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận là một trong những thành công lớn của Bộ Chính trị và QUTƯ trong Chiến dịch Tây Nguyên.
Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến mau lẹ, phức tạp; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau và sẵn sàng can dự, chi phối vào nội bộ nước khác.
Các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, nhất là an ninh, an toàn không gian mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục diễn biến ngày càng phức tạp. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh các hoạt động thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, với những thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện hơn. Trước tình hình đó, để tập trung xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, tập trung xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, bảo đảm luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Để thực hiện tốt nội dung trên, cần tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, bảo đảm Quân đội luôn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc.
Đảng bộ Quân đội tiếp tục đi đầu trong thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt, năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phê bình và tự phê bình, giữ nghiêm kỷ luật Đảng; đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy và chỉ huy cơ quan, đơn vị. Mặt khác, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Qua đó, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về ý chí, niềm tin, trách nhiệm chính trị; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị, tâm thế vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh, bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh luôn trung thành vô hạn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Hai là, tiếp tục điều chỉnh tổ chức biên chế các cơ quan, đơn vị Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều chỉnh tổ chức biên chế là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng đòi hỏi khách quan thực hiện mục tiêu tổ chức Quân đội có cơ cấu và quân số cân đối, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phù hợp với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc và yêu cầu chiến đấu trong tình hình mới.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, cấp ủy đảng và người chỉ huy các cấp cần tiếp tục tăng cường quán triệt và thực hiện hiệu quả Kết luận 16 ngày 7-7-2017 của Bộ Chính trị về tổ chức QĐND Việt Nam đến năm 2021; Nghị quyết 05 ngày 17-1-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII “Về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo”. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 15, ngày 1-8-2017 của Bộ Chính trị về bảo đảm vũ khí, trang bị (VKTB) cho QĐND Việt Nam đến năm 2025; Nghị quyết 18 ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ‘‘Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh” trong tình hình mới.
Điều chỉnh tổ chức từ cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng đến các cơ quan, đơn vị cấp chiến dịch, chiến thuật. Điều chỉnh thế bố trí để đáp ứng nhiệm vụ trên cả 5 môi trường tác chiến (không, bộ, biển, không gian mạng, không gian vũ trụ)(6). Giải thể, sáp nhập một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, thành lập một số đơn vị mới; bố trí đóng quân ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Rà soát hoàn chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các đầu mối trực thuộc Bộ, phân định rõ, không để chồng chéo.
Điều chỉnh tổ chức, biên chế là vấn đề lớn, tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của một bộ phận cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp và người lao động. Các cơ quan, đơn vị cần đánh giá đúng tình hình, thấy rõ những thuận lợi, khó khăn, củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ đối với chủ trương của Đảng, Quân đội; từ đó, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao, tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng và Nhà nước; tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức biên chế Quân đội, có cơ cấu hợp lý, số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nâng cao sức mạnh chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của LLVT nhân dân.
Ba là, tích cực đổi mới nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập, nâng cao chất lượng tổng hợp, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) của Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Đổi mới nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập, nâng cao chất lượng tổng hợp, SSCĐ của Quân đội là yêu cầu cấp thiết, vấn đề hết sức quan trọng, nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Các cấp ủy đảng, người chỉ huy phải thường xuyên coi trọng, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết của QUTƯ, Bộ Quốc phòng về công tác huấn luyện, nhất là Nghị quyết số 1659, ngày 20-12-2022 của QUTƯ về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo”; tổ chức thực hiện tốt Chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng của Tổng Tham mưu trưởng.
Đẩy mạnh đổi mới công tác huấn luyện theo tư duy mới về quân sự, quốc phòng của Đảng và phù hợp với yêu cầu Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Biển Việt Nam, Luật Quốc phòng Việt Nam năm 2018.
Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp huấn luyện, bám sát phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, địa bàn hoạt động, đối tượng tác chiến, phù hợp với tổ chức biên chế, sự phát triển của VKTB và nghệ thuật quân sự Việt Nam, yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; tăng cường huấn luyện thực hành, huấn luyện theo nhiệm vụ, tình huống, nâng cao khả năng cơ động tác chiến trong điều kiện địa hình, thời tiết phức tạp, địch sử dụng vũ khí công nghệ cao; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với luyện tập, diễn tập; xây dựng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tin tưởng vào thắng lợi của cách đánh, VKTB hiện có.
Đồng thời, tăng cường nghiên cứu, biên soạn, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống tài liệu huấn luyện cho các đối tượng, nhất là tài liệu huấn luyện cho các lực lượng mới thành lập; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, thực hành huấn luyện, diễn tập; tăng cường kết hợp giữa diễn tập chiến dịch, chiến lược với diễn tập chiến thuật, diễn tập vòng tổng hợp; kết hợp giữa diễn tập tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng với tác chiến của LLVT địa phương trong khu vực phòng thủ các cấp nhằm nâng cao năng lực tham mưu, chỉ huy tác chiến của cán bộ và trình độ, khả năng SSCĐ của các phân đội; đặc biệt chú ý công tác kiểm tra, rút kinh nghiệm luyện tập, diễn tập, nhất là rút kinh nghiệm phối hợp, hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng trong khu vực phòng thủ, nhằm nâng cao khả năng phòng tránh, đánh trả, bảo toàn lực lượng thời kỳ đầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và khả năng tham gia ứng phó, khắc phục thảm họa thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, chống biến đổi khí hậu trong tình hình mới.
Bốn là, đầu tư nâng cao chất lượng và đồng bộ VKTB hiện có cho Quân đội phù hợp với tổ chức, biên chế và Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam.
Sức mạnh của Quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó, con người là yếu tố quyết định, VKTB là yếu tố rất quan trọng. Những năm gần đây, cùng với mua sắm và đẩy mạnh sản xuất, chế tạo, nhiều loại vũ khí, khí tài, nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại được đưa vào khai thác, sử dụng, góp phần nâng cao khả năng, sức mạnh SSCĐ của Quân đội.
Phát huy kết quả đạt được, Bộ Chính trị, QUTƯ chỉ đạo các cơ quan Bộ Quốc phòng cần bám sát chủ trương của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tổ chức thực hiện chặt chẽ công tác đầu tư, mua sắm, sản xuất, cải tiến, hiện đại hóa VKTB kỹ thuật; nâng cao năng lực làm chủ công nghệ sửa chữa, khai thác, sử dụng các loại VKTB kỹ thuật thế hệ mới, hiện đại. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án mua sắm, sản xuất, cải tiến, hiện đại hóa VKTB kỹ thuật, phù hợp với khả năng của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ của LLVT.
Trong đó, tập trung nghiên cứu, đầu tư trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật, khí tài hiện đại cho một số lực lượng, như: Hải quân, Phòng không-Không quân, Tác chiến điện tử, Thông tin liên lạc, Trinh sát kỹ thuật và Cảnh sát biển; đồng thời, đẩy nhanh lộ trình từng bước hiện đại hóa VKTB cho các lực lượng khác. Thực hiện chính sách mở rộng đa phương với nhiều nước trên thế giới để có nhiều lựa chọn trong mua sắm VKTB công nghệ cao, phù hợp với khả năng kinh tế và xu hướng phát triển khoa học-công nghệ. Hợp tác kỹ thuật quân sự phát triển tốt cả bề rộng lẫn chiều sâu, từng bước chuyển dần từ mua sắm sang hợp tác nghiên cứu khoa học-công nghệ, chuyển giao công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, tăng hạn VKTB, đáp ứng với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Chiến thắng Tây Nguyên đã tròn 50 năm, nhưng những chỉ đạo chiến lược sắc bén, đúng đắn, sáng tạo, kịp thời của Bộ Chính trị, QUTƯ và những bài học quý được rút ra từ Chiến dịch Tây Nguyên vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Các cấp ủy đảng, cán bộ chỉ huy cơ quan, đơn vị các cấp trong toàn quân, nhất là cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào huấn luyện, SSCĐ và chiến đấu, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.



