Chi đoàn Quản Lý Và Kinh Doanh Khách Sạn 2 9+ K5 - ĐOÀN KHOA DU LỊCH - NGOẠI NGỮ - ĐOÀN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KIÊN GIANG
BÁC SĨ ĐẶNG THÙY TRÂM

Đặng Thùy Trâm ( 1942 - 1970 ) là nữ bác sĩ, liệt sĩ anh hùng nổi tiếng với cuốn nhật ký thời chiến cảm động. Bà xuất thân từ gia đình trí thức Hà Nội, bà xung phong vào chiến trường Quảng Ngãi, hy sinh năm 28 tuổi khi bảo vệ bệnh xá. Di sản của bà là hai cuốn nhật ký ghi lại cuộc chiến khốc liệt và tâm hồn trong sáng.
Lịch Sử :
Sau khi tốt nghiệp xuất sắc Đại học Y Hà Nội năm 1966, Đặng Thùy Trâm có cơ hội ở lại trường hoặc làm việc tại các bệnh viện lớn ở miền Bắc. Tuy nhiên, theo tiếng gọi của miền Nam ruột thịt, bà đã viết đơn tình nguyện xung phong đi vào tuyến đầu chiến tranh.
Ngày 23/12/1966, bà cùng đoàn cán bộ y tế bắt đầu cuộc hành trình vượt dãy Trường Sơn gian khổ.
Tháng 3/1967, sau hơn 3 tháng đi bộ, băng rừng vượt suối, bà mới đặt chân đến vùng đất Quảng Ngãi – nơi chiến sự đang diễn ra vô cùng ác liệt.
Nhiệm vụ đầu tiên mà bà được phân công là về huyện Đức Phổ, giữ chức vụ trưởng bệnh xá huyện Đức Phổ ( ngày nay thường được gọi là Bệnh xá Đặng Thùy Trâm ). Đây là một bệnh xá dã chiến nằm sâu trong vùng núi, thường xuyên phải di chuyển để tránh các trận càn quét của quân Mỹ.
Trong gần 4 năm tại chiến trường (1967 - 1970 ) , Đặng Thùy Trâm không chỉ là một bác sĩ tận tâm mà còn là một "người chị, người mẹ" của các thương binh.Bà thực hiện những ca mổ dưới hầm tối, trong điều kiện thiếu thuốc mê, thiếu dụng cụ y tế và tiếng bom nổ sát bên tai.
Ngày 27/9/1968, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam - một dấu mốc khẳng định sự trưởng thành về tư tưởng và ý chí cách mạng của người trí thức trẻ Hà Nội.
Vào ngày 22/6/1970, quân Mỹ mở chiến dịch càn quét quy mô lớn vào vùng núi Ba Tơ – Đức Phổ nhằm xóa sổ các bệnh xá dã chiến. Đơn vị của bà phải chia nhỏ ra để rút lui và di chuyển thương binh.
Thay vì rút chạy để bảo toàn tính mạng, Đặng Thùy Trâm đã một mình cầm súng bắn trả quyết liệt để thu hút hỏa lực địch, tạo điều kiện cho các thương binh và đồng đội chạy thoát vào rừng sâu. Trong cuộc đối đầu không cân sức ấy, bà đã trúng đạn và ngã xuống khi chỉ mới 28 tuổi.
Chỉ hai ngày trước khi mất ( 20/6/1970 ), bà vẫn viết những dòng nhật ký cuối cùng, chứa đựng bao trăn trở về cuộc chiến và tình yêu quê hương.
Một viên sĩ quan Mỹ sau đó đã tìm thấy cuốn nhật ký trong xác chiếc ba lô của bà. Cảm phục trước khí tiết của người phụ nữ Việt Nam này, ông đã giữ gìn cuốn sổ suốt 35 năm trước khi trao trả lại cho gia đình bà vào năm 2005.
Vào năm 1990, hài cốt của bà được gia đình đưa từ Nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường về Nghĩa trang liệt sĩ xã Xuân Phương, Hà Nội.
Ngày 20/02/2006, bà Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
Sự hy sinh của bà không chỉ là một mất mát về nhân sự y tế mà đã trở thành một ngọn đuốc thắp sáng tinh thần yêu nước cho hàng triệu người trẻ sau này.


