Chi đoàn thôn Khu Trung (2)
Chiến tranh, ngoài sự khốc liệt của bom đạn còn có sự khắc nghiệt của thời tiết, đau đớn của bệnh tật. Bước qua ngưỡng tuổi 75, người lính - giáo viên Đoàn Văn Phú ngày ấy nay nghỉ hưu ở phường Hoàng Văn Thụ (TP Bắc Giang).
Ông kể: "Năm 1965, khi đang dạy học ở quê hương, tôi được lệnh vào bộ đội. Ngày 6-1-1966, cả Sư đoàn kéo quân vào miền Nam. Đi bộ hành quân qua dãy Trường Sơn nắng cháy rát lưng, dọc đường đi lương thực thiếu, ăn uống kham khổ, 6 lạng gạo chia 3 bữa ăn trong ngày, đói run người. Với khẩu hiệu “Vai đồng, chân sắt, mắt ngựa, bụng thần tiên”, anh em vẫn dồn dập tiến bước, vậy mà cũng phải hơn 4 tháng sau mới đến được chiến trường miền Đông Nam Bộ. Sợ nhất là bị bệnh sốt rét, rét từ trong cơ thể rét ra, phải lấy nilon quấn chặt quanh người để chống phù, tích nước, bụng chướng. Một viên thuốc lẽ ra chỉ một người uống nhưng do thiếu nên phải hòa loãng với nước chia cho nhiều anh em mỗi người một ngụm. Nhìn đồng đội chết dần chết mòn vì thiếu thuốc mà bất lực, đành gạt nước mắt chôn cất vội vàng trong rừng và tiếp tục bước chân hành quân".
Tự hào có mặt trong đội hình quân giải phóng, hùng dũng bước đi trên đường phố Sài Gòn- Gia Định sau bao nhiêu năm cùng đồng đội chiến đấu cho ngày Bắc-Nam sum họp, cứ đến dịp này, những cựu chiến binh quân giải phóng miền Đông Nam Bộ TP Bắc Giang lại tề tựu bên nhau. Trong số đó có “Dũng sĩ diệt Mỹ” Nguyễn Quang Trụ (SN 1949) ở phường Dĩnh Kế. Là lính Trung đoàn 33 Anh hùng với những chiến công lừng lẫy trên khắp các chiến trường Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, 19 tuổi, ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai khi một trận mà tiêu diệt được 8 giặc Mỹ.
“Mới vào chuẩn bị cho trận đánh, nhiều người hỏi tôi có run không. Bảo là không run thì không đúng đâu, lo sợ lắm chứ, trời không rét mà hai hàm răng cứ va vào nhau lập cập. Nhưng khi đã xác định tư tưởng, cảm giác lo sợ tan biến, cứ nhằm thẳng quân thù mà bắn thôi”- ông Trụ kể. Trở về quê hương mang trong mình thương tật, mất 65% sức khỏe, vết thương còn hằn sâu trong cơ thể, mỗi khi trái gió trở trời là đau đớn nhưng ông luôn cảm thấy hạnh phúc vì được sống trong hòa bình, nhìn thấy đất nước quê hương đổi mới, cuộc sống của nhân dân ngày càng tốt đẹp hơn. Ông ngậm ngùi đọc cho tôi nghe mấy vần thơ tự sáng tác, để nhớ mãi những đồng đội năm nào: “Đoàn quân năm xưa ra đi rất đông. Nay nhiều người không bao giờ về nữa. Nén lòng mình thắp vài nén hương thơm. Qua làn khói như các anh về gặp mặt…”
Nghe những câu chuyện về chiến tranh, chúng ta thấu hiểu sự hy sinh anh dũng của các anh hùng liệt sĩ, những mất mát, đau thương của những Mẹ Việt Nam Anh hùng, các thế hệ thương binh, cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong... Chiến tranh qua rồi, nhưng với họ - những người lính, kỷ niệm chiến trường luôn còn mãi trong ký ức. Đất nước Việt Nam chúng ta đã nối liền một dải “từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái”, Bắc Nam sum họp một nhà. Có được hòa bình hôm nay, dân tộc Việt Nam đã phải hy sinh bao xương máu, đương đầu với bao cuộc chiến tranh. Vì thế, hơn ai hết, người Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình, của ổn định và quyết tâm giữ gìn nền hòa bình ấy.



