chi đoàn trường THCS Bộc Nhiêu
ÔNG NỘI EM – NGƯỜI LÍNH BƯỚC RA TỪ THỜI HOA LỬA
Có người từng nói rằng: "Hòa bình không tự nhiên mà có, hòa bình được đánh đổi bằng máu, nước mắt và tuổi xuân của biết bao người lính." Với em, điều đó không chỉ có trong sách lịch sử, mà hiện hữu ngay trong chính gia đình mình, qua câu chuyện của ông nội.
Ông em tên là Phạm Ngọc Hùng, sinh năm 1951. Năm 1971, khi vừa tròn hai mươi tuổi – cái tuổi đẹp nhất của cuộc đời – ông đã gác lại những ước mơ tuổi trẻ để lên đường tham gia kháng chiến chống Mỹ. Tháng 8 năm ấy, ông được điều vào chiến trường Kon Tum, một trong những chiến trường ác liệt nhất của Tây Nguyên.
Mỗi lần nhắc về những năm tháng ấy, ông thường nói rằng: "Chiến tranh không giống trong phim đâu cháu ạ." Em không thể nào tưởng tượng nổi những gì ông và đồng đội đã phải trải qua.
Đó là những ngày hành quân băng qua núi rừng Trường Sơn hun hút. Ban ngày phải bám rừng, bám núi để tránh máy bay trinh sát; ban đêm mới lặng lẽ hành quân. Có những hôm cả đơn vị chỉ có một nắm cơm vắt chia nhau, có khi nhiều ngày liền chỉ ăn rau rừng, măng rừng cầm cự. Mùa mưa Tây Nguyên, đường rừng trơn trượt, quần áo lúc nào cũng ướt sũng. Muỗi rừng, vắt, sốt rét rừng luôn rình rập. Thế nhưng điều đáng sợ nhất vẫn là những trận bom B-52 rung chuyển cả núi rừng, những trận pháo kích dữ dội và những cuộc càn quét liên tiếp của địch. Có những người đồng đội vừa còn cười nói với nhau buổi sáng, đến chiều đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Những năm 1971–1972, chiến trường Kon Tum diễn ra vô cùng ác liệt với nhiều trận đánh lớn, bom đạn phủ kín núi rừng Tây Nguyên.
Trong một trận chiến, ông em bị bom đánh trọng thương. Ông đã mãi mãi để lại cánh tay phải trên chiến trường. Sau lần bị thương ấy, ông được xác định là thương binh với tỷ lệ thương tật 41%, không còn đủ sức khỏe để tiếp tục chiến đấu. Rời đơn vị trong lòng đầy lưu luyến, ông lên đường trở về quê hương.
Rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975, trên đường trở về, ông nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Ông kể rằng lúc ấy ai nấy đều ôm chầm lấy nhau. Có người cười, có người khóc. Những giọt nước mắt ấy không phải vì đau đớn, mà là vì hạnh phúc. Bao năm chiến đấu, bao đồng đội đã ngã xuống, cuối cùng cũng đổi lấy ngày đất nước được hòa bình, Bắc Nam sum họp một nhà.
Nhưng chiến tranh đã để lại trong ông những vết thương không bao giờ lành. Ngoài cánh tay đã mất, ông còn bị nhiễm chất độc da cam, sức khỏe ngày một giảm sút theo năm tháng. Dẫu vậy, ông chưa bao giờ than phiền hay oán trách số phận.
Để ghi nhận những cống hiến ấy, Nhà nước đã trao tặng ông Huy chương Kháng chiến hạng Nhì cùng nhiều huân chương, huy chương cao quý khác. Với em, đó không chỉ là những tấm huân chương lấp lánh, mà còn là minh chứng cho lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước và sự hy sinh của một thế hệ đã sống trọn vẹn vì Tổ quốc.
Bây giờ, đất nước đã hòa bình hơn nửa thế kỷ. Thế nhưng mỗi khi có ai nhắc đến chiến tranh, đôi mắt ông lại đỏ hoe. Ông thường ngồi rất lâu, lặng lẽ nhìn xa xăm rồi kể cho chúng em nghe về những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi rừng núi Tây Nguyên. Có những cái tên ông vẫn nhớ như mới hôm qua.
Em còn nhớ rất rõ, năm ngoái, khi cả gia đình cùng xem Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông lặng người nhìn màn hình. Khi những đoàn quân bước đều trong tiếng nhạc hào hùng, ông đã không kìm được nước mắt. Em nghĩ ông đang nhớ về những người đồng đội năm xưa – những người đã mãi mãi nằm lại để đất nước có được ngày hôm nay.
Năm nay, ông em đã 75 tuổi. Tuổi già cùng những di chứng chiến tranh khiến sức khỏe ông yếu đi rất nhiều. Ông lúc nhớ, lúc quên. Có những đêm đang ngủ, ông bỗng gọi tên đồng đội hoặc giật mình như vẫn đang ở giữa chiến trường năm nào. Mỗi lần như vậy, em lại thấy thương ông biết bao.
Đối với em, ông không chỉ là người ông hiền từ luôn yêu thương con cháu, mà còn là một người lính của thời hoa lửa. Ông đã gửi cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, đánh đổi một phần thân thể và cả sức khỏe để hôm nay chúng em được sống trong hòa bình.
Em hiểu rằng thế hệ chúng em không phải cầm súng ra chiến trường như ông, nhưng có trách nhiệm học tập thật tốt, sống tử tế, biết yêu quê hương, biết trân trọng hòa bình và cố gắng xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. Đó chính là cách thiết thực nhất để tiếp nối những điều mà ông và biết bao thế hệ cha anh đã hy sinh để gìn giữ.
Em luôn tự hào khi được là cháu của ông.
Em chỉ mong ông sẽ thật mạnh khỏe, sống thật lâu bên con cháu để mỗi tối, em vẫn còn được nghe ông kể về những năm tháng hào hùng ấy. Bởi với em, ông chính là một người anh hùng bình dị, là ngọn lửa truyền cho em niềm tự hào dân tộc và tình yêu tha thiết đối với đất nước Việt Nam.


