Cựu chiến binh

CHI ĐOÀN TRƯỜNG TIỂU HỌC YÊN TRẠCH- CCB TRIỆU VĂN TÀNG

Tinh thần của người chiến sĩ giải phóng quân

Thái Nguyên01/05/2026Chi đoàn trường Tiểu học Yên Trạch (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Yên Trạch)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Triệu Văn Tàng, sinh năm 1950 tại xóm Phúc An, xã Phúc Thọ, huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái (nay là Thái Nguyên), bước vào cuộc đời người lính khi tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 7/7/1967, ông nhập ngũ tại đơn vị huấn luyện bộ binh C3D68A, tỉnh đội Bắc Thái. Chỉ ít tháng sau, ngày 19/12/1967, ông cùng đồng đội hành quân vào miền Nam chiến đấu. Những bước hành quân gian khổ, “ngày đi, tối nghỉ”, có khi phải hành quân xuyên đêm để tránh địch, đã sớm rèn luyện ý chí kiên cường của người lính trẻ.

Đến tháng 2 năm 1968, ông tham gia trận Khe Xanh (Lặc Vây) tại khu vực Khe Xanh – La Bảo trong nửa tháng ác liệt. Sau đó, ông hành quân sang Lào, tham gia chiến đấu tại cánh đồng Chum, gia nhập đơn vị C6-K2-H2–F325C. Tại đây, ông cùng đồng đội lập chiến công khi phục kích, bắn cháy 3 xe chở hàng, đạn dược và quân trang của địch. Sau trận này, ông chuyển sang làm lính trinh sát, trực tiếp đột nhập vào đội hình địch để nắm tình hình, phục vụ tác chiến.

Trong một lần đi lấy gạo trên đường hành quân, đơn vị ông bị phục kích tại bến xe 3B (T3 Giải Phóng). Hai trung đội bị đánh bất ngờ, 2 đồng chí hy sinh, 4 đồng chí bị thương, riêng ông bị trúng đạn M79. Kẻ địch lúc đó gồm quân Mỹ, Ngụy, lực lượng Nam Triều Tiên và cả trường biệt kích Đăk Siêng. Ông cùng đơn vị liên tục chiến đấu trong nhiều hình thức: đánh viện, đánh cao điểm, tập kích, phục kích, và bị nhiều mảnh đạn găm vào cơ thể ông bị bắn một mảnh vào khuỷu tay trái, một vào xương quai hàm, một trẻ đôi lông mày.

Tháng 6 năm 1968, sau khi tham gia phục kích bên Lào, ông tiếp tục hành quân về đánh trận Cao điểm Ngọc Hồi. Chỉ trong 2 tiếng chiến đấu, đơn vị ông đã làm chủ trận địa dù địch sử dụng máy bay, pháo và hỏa lực mạnh. Sau đó, đơn vị tiếp tục chiến đấu tại Plei Cần.

Tháng 9 năm 1969, ông tham gia trận vây ép Đăk Siêng (Tây Nguyên) . Đoàn của ông có 16 người và đánh 2 Đại đội của Mỹ. Tháng 7 2 Tiểu đoàn vào chuẩn bị điểm hỏa thì có trận mưa kéo dài 2 tiếng khiến hầm, hố, các thứ đều hỏng hết nhưng lệnh vẫn cứ phải điểm hỏa, pháo cấp trên bắn xuống đội của ông thì điểm hỏa đột phá mở hàng hàng rào. Có hàng rào thì mở được có hàng rào không mở được vì đột phá không nổi có mỗi 1 Tiểu đoàn vào được tí sau đó bắt đầu trong kia vừa pháo vừa đại liên, đại liên ở lỗ châu mai kéo cái xẻng ra khoét và hi sinh rất nhiều. 1 Tiểu đoàn gom được 1 đại đội đông đủ. Thời điểm đó ông không vào điểm hỏa cùng đội mà ông ở trên chốt để quan sát, đài quan sát Ngọc 91 đưa quân vào 1 số đồng đội chiến sĩ tiến vào còn ông lên đài quan sát cao điểm cao 1101m. Sau cùng đoàn ông rút quân ra vừa nhận, vừa bổ sung thêm lực lượng để vây ép trường đến ngày 1/9/1968 quân địch hành quân 2 Đại đội ra Cao điểm 851 đóng chốt thời điểm đó trời đã rất tối rồi thì quân địch mới đóng chốt. Đội của ông có 3 trinh sát lên 3 hướng kiểm tra toàn bộ khu vực quân địch và phát hiện quân địch đang mắc võng, mắc tang, dọn bãi chuẩn bị ngủ. Lúc đó ông cùng đồng đội về đơn vị bàn bạc cùng Đại đội. Thời điểm đó có mỗi 1 Đại đội và đưa 2 Trung đội đi đánh và chia thành 2 ngả 1 ngả của Đội B1. B2 bên phía Đông còn 1 Đội B3 của ông đánh bên phía Tây và đội quân của ông gồm 16 người thì tiến đánh thẳng về phía quân địch đang nghỉ ngơi với chiến thuật “ nở hoa trong lòng địch”. Đoàn ông hành quân tiếp cận vào cách quân địch khoảng 10m thì bắt đầu dọn bãi trống để mình định hướng. Ông được nhận lệnh vượt thẳng vào trong khu vực địch đang ngủ khi đó quân địch đang ngủ 2 người 1 sạp còn 1 phần thì tui trong túi bạt khóa. Còn lính Mỹ thì nằm trong lều bạt Chỉ huy 2 Đại đội của địch có 1 nhà bạt, 1c bên là nhà bạt của thông tin. Từ lúc 9h ngày 1/9/1969 đêm bắn đại liên sát mặt đất nó cày, đơn vị bộ binh của quân ta bị bắn choáng quá không tiến lên được còn bên đoàn của ông không nhận được thông tin nên cứ trườn lên đến đánh thẳng vào trại của địch đang ngủ thời điếm đó vảo khoảng 10h đêm đạn bắn vèo vèo, động vào cây le phát sáng ầm ầm. Đến 24h ngày mùng 2/9/1969 đội của ông bố trí mỗi người 1 sạp quân ông vừa dùng lựu đạn, đạn pháo, dao găm mỗi người phụ trách 1 hoặc 2 sạp, ở ngoài còn rất nhiều sạp đội ông nhường cho bộ bình nhưng bộ binh đã rút về từ lúc nào không biết còn mỗi đơn vị của của ông gồm 16 người chinh chiến. Quân ông nổ súng, ném lựu đạn 1 quả vào chỉ huy 1 quả vào giao thông liên lạc.

Đến 2h sáng ngày 3/9/1969 đoàn của ông bị thương và rút ra. Trận chiến mặc dù thất bại quân của ông hi sinh 6 người gồm mũi trưởng, C trưởng, C phó, chính trị viên,….. và bị thương 4 người nhưng đội của ông mang lại 1 phần chiến công đội của ông đã tiêu diệt gần hết 2 Đại đội của địch khoảng hơn 400 quân địch. Riêng ông giết được 6 tên địch trong túi bạt vải và giải cứu được 1 đồng đội đang bị thương ra ngoài. Trong trận đó ông cũng bị thương khá nặng do lựu đạn và M79, ông bị vỏ đạn bắn ra toàn thân, 1 mảnh đạn ở sau đầu, 1 mảnh ở chẩm trán, 1 mảnh bên sườn trái, 1 mảnh ở thắt lưng, 1 mảnh ở mắt cá chân phải, 1 mảnh xuyên kẽ ngón chân út, 1 mảnh xuyên sát gân gót, 1 mảnh ở đầu gối, 2 mảnh bên mông trái do đít lựu đạn US, 1 mảnh ở bắp tay phải, 1 mảnh ở khuỷu tay phải, 1 mảnh ở bả vai, 1 mảnh sát tùy phổi,……. Ông cùng đồng đội bị thương được đưa ra điều trị tại các trạm phẫu để điều trị và băng bó vết thương. Sau đó đoàn của ông tiếp tục được đưa ra ngoài Bắc điều trị. Trên đường đưa đi điều trị ở ngoài Bắc đoàn ông bị pháo đuổi cả đội trốn pháo đuổi đã ném ông vào bụi nứa rách cả võng, cả áo. Hôm sau ông được 3 người phụ nữ ở Tây Nguyên khiêng ra và đưa xuống hầm trú ẩn rồi dùng cây guột che lấp và sau đó gặp trận mưa, do bị thương ông mưa cứ trút xuống ông phải ngó đầu lên để thở Đồng đội của ông bị thương nhẹ nên vẫn còn sức hắt nước đổ đi rồi gọi y tá cầu cứu. 3 ngày tiếp theo mưa to chảy qua suối chảy riết siết đoàn ông được đoàn vận tải đưa qua sông. Trên đường đưa đoàn bị thương của ông qua sông đã bị trôi mất 1 người đoàn của ông phải dừng lại để vớt đồng chí bị thương trôi trên sông. Ra đến ngoài Bắc ông cùng đồng đội bị thương được đưa vào bệnh viện Quân đội 108 để điều trị

Dù được điều trị, đến nay trên cơ thể ông vẫn còn 28 mảnh đạn chưa được lấy ra. Sau chiến tranh, ông được trao tặng Kỷ niệm chương Chiến trường Tây Nguyên.

Với những cống hiến và hy sinh to lớn, ông Triệu Văn Tàng được Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

· Ngày 14/7/1975: Huân chương Chiến sĩ giải phóng

· Ngày 1/12/2001: Huân chương Kháng chiến hạng Nhất

· Ngày 22/12/2012: Được Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trao tặng nhà tình nghĩa

Cuộc đời ông là minh chứng sống động cho tinh thần quả cảm, ý chí kiên cường của người lính Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc, nhưng lòng dũng cảm thì luôn sáng mãi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn