Anh hùng Lực lượng vũ trang

Chi đội 10, tỉnh Biên Hòa

Chi đội 10, tỉnh Biên Hòa

Đồng Nai02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công ở Sài Gòn - Gia Định, mở đầu công cuộc xâm lược nước ta lần thứ 2.

Hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn dân đoàn kết bảo vệ quốc gia” của Xứ ủy, Ủy ban nhân dân Nam Bộ, nhân dân cùng các lực lượng vũ trang ở Sài Gòn - Gia Định thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, bất hợp tác với thực dân Pháp, “.. .nắm chắc vũ khí trong tay, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp cứu nước, cuộc kháng chiến bắt đầu”. Lúc này trên địa bàn tỉnh Biên Hòa có 3 tổ chức vũ trang yêu nước là: Giải phóng quân quận Châu Thành, Vệ quốc đoàn Long Thành, Vệ quốc đoàn Biên Hòa.

Cuối tháng 4/1946, Hội nghị cán bộ Biên Hòa ở cù lao Vịt (Tân Triều) ra quyết nghị về việc thống nhất lãnh đạo của Đảng với lực lượng vũ trang. Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ, Chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hòa, được cử làm Ủy viên quân sự tỉnh Biên Hòa.

Tháng 5/1946, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ triệu tập Hội nghị Quân sự tỉnh Biên Hòa tại Xóm Đèn (xã Tân Hòa). Hội nghị ra Nghị quyết về 2 vấn đề: nhập Giải phóng quân quận Châu Thành với Vệ quốc đoàn Biên Hòa thành đơn vị vũ trang thống nhất của tỉnh, lấy tên là Vệ quốc đoàn Biên Hòa; xây dựng căn cứ kháng chiến lấy tên là Chiến khu Đ.

Tháng 6/1946, Bộ Chỉ huy Khu 7 mở Hội nghị quân sự toàn khu. Ngay trong tháng này, Vệ quốc đoàn Biên Hòa và Vệ quốc đoàn quận Long Thành thống nhất lại, thành lập Chi đội 10 Biên Hòa.

Chi đội 10 Biên Hòa được tổ chức thành 3 đại đội phiên hiệu A, B, C với quân số 1.100 người. Ban Chỉ huy Chi đội 10 gồm Chi đội trưởng Huỳnh Văn Nghệ, Chi đội phó Huỳnh Văn Đạo. Sau đó, đồng chí Đạo được Khu tăng cường về làm Chi đội trưởng Chi đội 16 Bà Rịa; đồng chí Nguyễn Văn Lung từ Long Thành về làm Chi đội phó Chi đội 10; đồng chí Cao Minh Căng là Chi đội phó. Chính trị viên là Phan Đình Công.

Các Ban của chi đội 10 gồm: Ban Quản trị, Ban Quân nhu, Ban Quân trang, Ban Quân y, Ban Sanh sản tự túc, Ban Trinh sát liên lạc (sau đó đổi tên Chi quân báo), Binh công xưởng (của Khu 7), Kho vũ khí, Văn phòng chi đội, Thư ký Ban Chỉ huy.

Những chiến sĩ của Chi đội 10 xuất thân từ nhiều thành phần: đại đa số là nông dân, công nhân trong các đồn điền cao su, trong nhà máy cưa BIF, một số nhà máy công nghiệp ở Sài Gòn, thanh niên yêu nước từ các miền của đất nước tập hợp về; một số ít từng là công chức Pháp, sĩ quan, binh lính Lê dương của Pháp, của Nhật đã giác ngộ và tình nguyện tham gia chiến đấu với bộ đội Việt Minh

Chi đội 10 Biên Hòa thành lập trong điều kiện thực dân Pháp về cơ bản đã kiểm soát các vùng đô thị, thị trấn, lấn chiếm nhiều vùng nông thôn, trong đó xây dựng một số đồn bót ngay trong căn cứ Chiến khu Đ, đồng thời nhiều thanh niên xuất thân nông dân, công nhân, học sinh từ các vùng tạm chiếm thoát ly ra căn cứ xin gia nhập bộ đội. Việc tiếp tế nuôi quân, việc nắm tình hình địch để bộ đội hoạt động gặp nhiều khó khăn.

Để góp phần giải quyết những khó khăn trên, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ có sáng kiến xây dựng các quận quân sự, hoạt động trong các vùng liên xã, có các nhiệm vụ: Tự xây dựng tổ chức, mỗi quận hình thành một tiểu đội du kích tập trung trở lên. Ban đầu Chi đội cấp cho mỗi quận quân sự từ 1 đến 3 khẩu súng trường, sau đó tự trang bị bằng súng cướp được của địch. Tổ chức ở mỗi xã 1 tiểu đội du kích bán tập trung, khi cần mới tập trung, trang bị vũ khí tự tạo. Trinh sát nắm tình hình địch, báo cáo cho Ban Chỉ huy chi đội; đảm đương nhiệm vụ tổ chức địa bàn cho chi đội hoạt động đánh địch và cùng chi đội chiến đấu. Vận động các viên chức hội tề, binh lính ngụy và gia đình làm việc cho ta, trừng trị bọn tề ngụy, Việt gian ngoan cố, phản động ác ôn. Tạm thời làm thay nhiệm vụ chính quyền ở cơ sở, thu thuế trong nhân dân, tiếp nhận sự ủng hộ của nhân dân chuyển về chi đội nuôi quân.

Ban Chỉ huy Chi đội 10 Biên Hòa bước đầu tổ chức được 9 quận quân sự, sau này còn thành lập thêm quận quân sự 10.

Như vậy với việc xây dựng các quận quân sự, Ban Chỉ huy Chi đội 10 Biên Hòa đã thể hiện tính chủ động sáng tạo trong hoạt động, xây dựng được chân rết bên dưới cho chi đội hoạt động thuận lợi hơn. Bước đầu, tỉnh Biên Hòa xây dựng được 3 hình thức vũ trang từ tỉnh xuống quận, xã, tiền thân của 3 thứ quân sau này.

Chi đội 10 Biên Hòa hình thành cũng là lúc thực dân Pháp cơ bản kiểm soát được vùng thị xã, thị trấn, xây dựng các bộ máy tề ở huyện, xã, tổ chức hệ thống đồn bót cả ở đô thị, nông thôn và các đồn điền cao su. Đơn vị đứng chân chiến đấu trên một chiến trường rộng trên 11 ngàn km2, địa hình vừa có rừng núi, đồng bằng, đô thị, sông rạch khá chằng chịt, với nhiều lộ giao thông quan trọng gồm cả đường bộ, đường thủy và đường sắt.

So sánh tương quan lực lượng giữa thực dân Pháp và lực lượng vũ trang kháng chiến ở Biên Hòa mà nòng cốt là Chi đội 10, rõ ràng có sự chênh lệch về quân số. Tuy nhiên, hoạt động của Chi đội 10 có nhiều thuận lợi: cán bộ, chiến sĩ am hiểu địa thế chiến trường; sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ; quần chúng nhân dân thông qua các đoàn thể cách mạng đã ủng hộ nhiệt tình, đồng thời cũng là tai mắt của kháng chiến. Ngoài căn cứ Chiến khu Đ, đơn vị còn có căn cứ Rừng Sác ở vùng ngập mặn cận biển và một hệ thống những căn cứ du kích áp sát thị xã Biên Hòa.

Điều quan trọng hơn, Ban chỉ huy chi đội bố trí được các đại đội, trung đội đứng chân ở những vùng trọng điểm của tỉnh, trong đó đại đội A chủ yếu ở khu vực căn cứ và quận Tân Uyên (hữu và tả ngạn sông Đồng Nai); đại đội B (2 trung đội) đứng chân hoạt động khu vực thị xã Biên Hòa (quận Châu Thành, quận Xuân Lộc, nơi địch có nhiều cơ sở khai thác cao su, hệ thống giao thông quan trọng như lộ 1, lộ 20 đường 15, đường sắt); Đại đội C đứng chân ở khu vực quận Long Thành án ngữ lộ 15 từ Biên Hòa đi Bà Rịa, tuyến sông Thị Vải, Lòng Tàu nối với biển Đông, có kho bom đạn Thành Tuy Hạ. Thế triển khai của chi đội còn mở rộng hơn nhờ tổ chức được các quận quân sự, hình thành thế chân rết ở cơ sở hoạt động có hiệu quả.

Ngày 14/9/1946, Chính phủ ta ký với Pháp bản tạm ước. Quân Pháp ở Biên Hòa rút một số đơn vị bộ binh đi chuẩn bị mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước; rút bỏ một số đồn bót chúng đóng sâu trong căn cứ ta ở Tân Uyên, Long Thành. Vùng căn cứ kháng chiến được khôi phục và mở rộng; bộ máy Đảng, Chính quyền được củng cố. Các đội du kích ở quận và cơ sở tiến hành diệt ác ôn, trấn áp tề điệp, làm chủ được xã ấp, việc xây dựng cơ sở kháng chiến phát triển, hệ thống giao thông mở rộng, tạo điều kiện tiếp tế lương thực, hàng tiêu dùng cho bộ đội.

Lúc này, Ban Chỉ huy Chi đội 10 Biên Hòa quyết định chuyển các quận quân sự thành các ban công tác liên thôn, có đội du kích tập trung, tiền thân của các quận đội dân quân sau này. Dưới các ban công tác liên thôn là các ban công tác xã có du kích xã (tiền thân các xã đội). Các ban công tác liên thôn là tổ chức quân sự giúp việc cho Ủy ban hành chính quận, nhưng do Ban chỉ huy Chi đội 10 chỉ huy và quyết định về kế hoạch hoạt động.

Đến cuối năm 1946, trên địa bàn tỉnh Biên Hòa hình thành 3 hình thức tổ chức vũ trang: các đại đội tập trung của chi đội; các đội du kích tập trung của ban công tác liên thôn; du kích các xã - là cơ sở để xây dựng 3 thứ quân ở địa phương sau này. Trong lúc đó, ở trong thị xã, Ban Chỉ huy chi đội chuyển các tổ ám sát làm nhiệm vụ diệt trừ ác ôn thành các ban công tác thành - tiền thân của Đội biệt động Biên Hòa sau này.

Trận tập kích đầu tiên của Chi đội 10 diễn ra vào đúng 2 giờ sáng 1/1-1947. Ban công tác liên thôn đưa các chiến sĩ binh công xưởng với khẩu cối 81 ly vừa chế tạo từ hướng Bửu Long vào Sở Cải xây dựng trận địa. Cùng lúc Trung đội 5 từ bến đò An Hảo vượt sông Đồng Nai vào ém quân ở khu vực Đài Kỷ niệm, đột nhập đốt cháy phòng thông tin của địch ở chợ Biên Hòa và rải truyền đơn của Việt Minh kêu gọi nhân dân nội thành tham gia ủng hộ kháng chiến. Trung đội 1 phục kích ở khu vực chòm mã Ngã ba Dốc Sỏi chặn viện binh Pháp từ sân bay ra. 15 quả đạn cối 81 ly đã bắn vào thành Kèn của Pháp, gây nổ và tạo thành những cột lửa cao cháy sáng rực một góc thành. Cùng lúc, phòng thông tin ở chợ Biên Hòa bị thiêu rụi, trạm canh trước dinh tỉnh trưởng Biên Hòa bị tấn công và đốt cháy. Nhân dân Biên Hòa vô cùng phấn khởi.

Trung tuần tháng 1/1947, Ban Chỉ huy Chi đội nhất trí chọn quốc lộ 1 làm mục tiêu tiến công các đoàn xe giao thông địch, đặc biệt đường sắt Bắc - Nam đoạn qua quận Xuân Lộc là mục tiêu chính. Ngày 18/1/1947, thực dân Pháp với lực lượng khoảng 2 ngàn quân tấn công vào Chiến khu Đ. Nhờ bố phòng và cảnh giác cao, đại đội A phối hợp cùng các Ban công tác liên thôn ngăn chặn địch có hiệu quả, tiêu diệt nhiều bộ binh địch, đặc biệt bãi cọc chống nhảy dù ở khu vực trảng trống phát huy hiệu quả cao. Trận càn của Pháp bị bẻ gãy, ta thu nhiều vũ khí, máy thông và nhiều vải dù của địch.

Ban Chỉ huy giao nhiệm vụ cho đại đội B nghiên cứu kết hợp cùng Ban công tác liên thôn 9 và 10, thực hiện trận đánh, chọn đồn Bình Lộc nằm trong đồn điền cao su Bình Lộc do 1 trung đội Lê dương đóng giữ, có công sự kiên cố. Một đêm đầu tháng 2/1947, Trung đội 4 và Trung đội 6 để lại 2 phân đội chặn viện bên ngoài, bí mật vào tiếp cận bao vây đồn Bình Lộc. Toàn bộ bọn lính trong đồn đều bị bất ngờ. Ta bắt sống toàn ban chỉ huy đồn, tên chủ sở đồn điền và binh lính, thu toàn bộ súng. Toàn bộ địch đều được ta khoan hồng tha cho về nhà. Đồn Bình Lộc bị san bằng.

Trong trận đánh giao thông đường sắt Bảo Chánh diễn ra vào trưa 19/5/1947, lực lượng tham gia trận đánh gồm Đại đội B với 2 trung đội 4 và 6 phối hợp cùng du kích 2 Ban công tác liên thôn 9 và 10. Đoàn xe lửa của địch chạy vào trận địa phục kích. Quả địa lôi phát nổ buộc đoàn xe dừng lại. Bộ đội ta từ cánh rừng 2 bên đường xe lửa vận động ra chiếm các toa tàu. Bọn lính hộ tống trên các toa tàu không kịp phản ứng, một số bị tiêu diệt, một số ôm súng chạy vào rừng, chạy ngược về hướng Xuân Lộc, một số đầu hàng tại chỗ. Trận ra quân đầu tiên ở Bảo Chánh thắng lợi hoàn toàn.

Ở trận Trảng Táo diễn ra vào tháng 6/1946, tham gia trận đánh gồm Đại đội B và du kích 2 Ban công tác liên thôn 9 và 10. Khi đoàn xe lửa vừa đến, địa lôi nổ các chiến sĩ từ 2 cánh rừng kéo mạnh dây đã cột vào đường ray, nhưng các toa đè trên đường ray sức kéo không đủ lực. Khi bánh xe của đầu toa sau vừa ra khỏi đầu nối đường ray, các chiến sĩ dùng sức kéo mạnh, đường ray bật ra. 2 toa xe sau lọt khỏi đường ray nhưng vẫn chạy thêm một đoạn nữa đến khúc cua thì lật nhào, đoàn tàu phía trước vẫn chạy luôn về ga Gia Huynh. Bộ đội ta truy kích theo, dùng lựu đạn đánh diệt toa tàu chở bọn lính hộ tống. Toa còn lại, ta tịch thu 2 khẩu súng đại liên, 10 tấn gạo và nhiều đồ hộp thịt, cá.

Trong trận đánh ở Bảo Chánh lần thứ 2, nắm được ý đồ của thực dân, Ban Chỉ huy Chi đội 10 chỉ đạo chặn đánh đoàn tàu đi sau, bố trí lực lượng ngăn chặn không cho đoàn tàu đi trước quay lại ứng cứu. Để tạo bất ngờ cho địch, Ban Chỉ huy Chi đội cho bộ đội quay lại bố trí trận địa ở Bảo Chánh, nơi đoàn xe địch bị ta đánh vào tháng 5-1947. Khi đoàn tàu lửa vào trận địa, đầu xe thứ nhất vừa qua, từ điểm chỉ huy quan sát, đại đội trưởng đại đội B ra lệnh phát hỏa. Quả địa lôi 50 cân Anh nổ lớn. Chiếc đầu máy xe lửa bị hất tung lên và rơi xuống đất kéo theo một tiếng vang rất lớn. Bộ đội ta từ bìa rừng vận động ra thì thấy đoàn tàu lửa đang chạy thục mạng về hướng Gia Ray, còn đoàn tàu thứ 2 thì dừng lại cách trận địa trên 200 mét. Lúc đó, ta mới phát hiện chiếc đầu máy bị nổ tung là đầu máy đẩy của đoàn tàu đi trước. Bộ đội được lệnh vận động theo bìa rừng tiếp cận tấn công đoàn tàu đi sau. Từ 2 bên ta-luy trên cao (cách đường ray 4-5 mét), hỏa lực ta bắn cấp tập vào 2 toa bọc thép hộ tống, để bộ đội luồn dưới làn đạn xung phong lên các toa xe đánh địch. Bất ngờ, cả đoàn xe địch chuyển động rồi chạy ngược về hướng Dầu Giây. Bộ đội ta buộc phải nhảy xuống để rút vào rừng. Trong trận này, ta chỉ diệt được 1 đầu máy xe lửa, chiến lợi phẩm thu được không nhiều.

Trận đánh ở Bàu Cá diễn ra vào ngày 14/7/1947 đúng ngày Quốc khánh nước Pháp (14/7), gây tiếng vang chính trị rất lớn. Binh công xưởng Chi đội 10 chế tạo từ 2 quả bom 50 cân Anh thành 2 quả địa lôi kích nổ bằng điện để phục vụ trận đánh. Lực lượng ta bố trí 2 trận địa A và B trên tuyến đường đường sắt đoạn Bàu Cá. 12 giờ trưa, đoàn tàu thứ nhất lọt vào trận địa A. Quả địa lôi nổ tiêu diệt đầu máy tàu. Bộ đội ta xung phong, nổ súng tiêu diệt 200 tên bao gồm bọn lính hộ tống (có 1 đại úy chỉ huy) và lính tăng viện ra chiến trường Trung, Bắc; thu được 1 khẩu trung liên, 14 tiểu liên, 40 súng trường, 5 súng ngắn và 3 máy truyền tin vô tuyến, cùng nhiều lương thực thực phẩm. Ở mặt trận B, đoàn tàu thứ 2 chưa vào trận địa nhưng nghe tiếng nổ nên dừng lại và chạy ngược về hướng Trảng Bom.

Trong trận phục kích giao thông La Ngà (1/3/1948) Ban Chỉ huy trận đánh gồm: Nguyễn Văn Lung, Chi đội phó Chi đội 10 làm Chỉ huy trưởng, Đinh Quang Ân, Lê Văn Ngọc, Hoàng Minh Chánh Chỉ huy phó, Võ Cương chính trị viên.

Trước đó, vào cuối tháng 11/1947, Đại đội B xây dựng 1 phân đội trinh sát đặc biệt, lấy chiến sĩ của Ban công tác liên thôn 9 trước đây làm nòng cốt. Đầu tháng 1/-1947, phân đội lên đường xuyên rừng, vượt suối đi La Ngà bám sát đoạn đường quốc lộ 20, quan sát, ghi chép từng chuyến xe, từng đoàn xe từ Sài Gòn đi Đà Lạt và từ Đà Lạt trở về Sài Gòn để điều nghiên trận địa. Qua đó, phân đội trinh sát đặc biệt phát hiện 20 hécta lúa của đồng bào dân tộc làm nhưng chưa thu hoạch do thực dân Pháp đã gom dân đi. Phân đội tuyển chọn thêm 19 thanh niên địa phương tình nguyện tham gia lực lượng ra sức chăm sóc, thu hoạch 20 hécta lúa, đóng cối giã lúa, dần sàng thành gạo đưa vào kho dự trữ. Lượng gạo đủ cho khoảng 1.000 quân dùng trong 1 tuần lễ được bố trí ở ven suối Sa Sả và vàm ngã ba sông La Ngà - Đồng Nai. Về lương thực, các chiến sĩ đánh bắt rất nhiều cá ướp muối phơi khô gần 500kg; xẻ thịt 6 con trâu, cắt khúc luộc nước muối phơi khô; hàng chục thùng phuy nước được bố trí cặp những con đường bí mật cho bộ đội dùng... Vấn đề lương thực cho Chi đội cơ bản được giải quyết. Bên cạnh đó, chính quyền và Mặt trận Việt Minh huyện Xuân Lộc cũng cử cán bộ vào các sở cao su Bình Lộc, Túc Trưng vận động công nhân cao su ủng hộ kháng chiến...

Sau khi giải quyết được vấn đề lương thực, hậu cần và nắm quy luật của địch trên quốc lộ 20, Ban Chỉ huy đề ra kế hoạch tác chiến, trong đó quyết định lực lượng tham gia trận phục kích gồm có: Ban Chỉ huy Chi đội 10 và cơ quan chỉ huy tất cả 27 đồng chí; huy động quân số gồm 2 đại đội của Chi đội 10 với 360 chiến sĩ; 3 trung đội của Liên quân 17 gồm 154 chiến sĩ. Địa điểm phục kích được chọn tại quãng đường La Ngà - Định Quán, từ cây số 104 đến cây số 113, bố trí làm ba trận địa C, B, A nối tiếp nhau.

Để thực hiện kế hoạch này, Ban Chỉ huy chi đội giao nhiệm vụ cho trung đội 5 (Đại đội B) phối hợp cùng du kích và dân quân 2 quận Châu Thành và Xuân Lộc triển khai nhiệm vụ phá và ngăn đường từ đoạn Hố Nai (quốc lộ 1) lên ngã ba Dầu Giây và từ Dầu Giây ngược lên theo quốc lộ 20 bằng cách đào đường, đắp vật cản, chặt cây mở miệng sẵn khi đoàn xe đến thì ngã đổ ra đường; bố trí du kích bắn tỉa quấy rối tiêu hao, bắt đoàn xe địch phải dừng nhiều lần để giải tỏa chướng ngại vật trên đường dẫn đường, tinh thần căng thẳng đồng thời buộc đoàn xe địch đến La Ngà phải chậm từ 2 đến 3 giờ đồng hồ.

Ngày 26/2/1948, Chi đội 10 và Liên quân 17 hành quân xuất phát từ Chiến khu Đ vượt sông Đồng Nai để tiến về hướng quốc lộ 20. Các chiến sĩ thuộc phân đội trinh sát đặc biệt sau khi hoàn thành nhiệm vụ thì chuẩn bị hậu cần cho trận đánh, trở thành những chiến sĩ trinh sát dẫn đường cho các lực lượng về vị trí tập kết. Phân đội mở các con đường bí mật, hoặc bẻ cò các cây ven đường cho bộ đội hành quân. Những đoạn đường rừng, sình lầy chiến sĩ đi qua, các chiến sĩ phân đội đặc biệt là người đi sau cùng phải xóa dấu vết không cho địch phát hiện.

Ngày 29/2, Chi đội 10 và Liên quân 17 đã chiếm lĩnh trận địa đảm bảo an toàn và bí mật trên 3 mặt trận A, B, C. Các chiến sĩ tổ chức đào công sự chiến đấu. Chiến sĩ thông tin thì hối hả rải hàng chục ngàn mét dây điện thoại, xuyên rừng rậm nối liền chỉ huy sở với các trận địa. Các chiến sĩ binh công xưởng đưa những quả địa lôi chôn ở 3 trận địa. Lợi dụng đặc điểm của quãng đường là các đàn voi thường qua lại để lại những bãi phân lớn, thế là các chiến sĩ chôn địa lôi xong lấy ngay phân voi đắp lên trên để ngụy trang. Đặc biệt địa lôi ở trận địa A là rất quan trọng vì là quả địa lôi khóa đầu chặn đứng cả đoàn xe địch, đồng thời là tiếng nổ phát lệnh tấn công địch. Đồng chí Bùi Cát Vũ, Giám đốc binh công xưởng và công nhân kỹ thuật trực tiếp đi kiểm tra từng quả một, từ cách lắp kíp nổ, đến cách đặt, cách chôn, quyết tâm giật quả nào chắc nổ quả ấy.

Đến tối 29/2 rạng sáng 1/3/1948, mọi kế hoạch chuẩn bị, bố trí chiến trường của Chi đội 10 trên 3 mặt trận đều đã hoàn thành, sẵn sàng chiến đấu khi có lệnh.

Cùng trong đêm 29/2/1948, đội du kích tập trung huyện Châu Thành mang cuốc, xẻng, dao, súng lên quốc lộ 1 quãng từ Hố Nai lên ngã ba Dầu Giây. Du kích huyện Xuân Lộc phụ trách đoạn từ Dầu Giây trở lên quốc lộ 20. Các chiến sĩ mở miệng cây ven đường từng đoạn một, sau đó cho ngã lăn ra đường khi đoàn xe địch sắp đến, đắp các mô kết hợp chà cây trên đường; bố trí đội hình bắn tỉa quấy rối địch...

Đúng như tin tình báo từ trong nội thành cung cấp, đoàn xe gồm 69 chiếc chở nhiều sĩ quan cấp cao cùng các nhà tư sản ở Sài Gòn, khởi hành từ 5 giờ sáng đi Đà Lạt và qua Biên Hòa. Đoàn xe địch vượt cầu Gành, cầu Rạch Cát, dừng nghỉ khoảng 10 phút ở ngã ba Kỷ niệm sau đó xuất phát rời thị xã Biên Hòa. Khi đến Hố Nai, đoàn xe phải dừng nhiều lần để cho bọn lính hộ tống lắp hố thông đường, cột dây kéo những đoạn cây lăn trên đường, dò mìn xem Việt Minh có ngụy trang trong những chòm cây không, quay lại đối phó với du kích bắn tỉa vào các xe đi đoạn cuối... Liên tục phải đối phó với chướng ngại trên đường, với du kích bắn tỉa, quấy rối, bọn địch trong đoàn xe rất bực bội, căng thẳng thần kinh, mệt mỏi vì không thể đảm bảo thời gian như đã định.

Mãi đến quá trưa 1/3, đoàn xe địch mới bắt đầu đến ngã ba Dầu Giây rẽ sang quốc lộ 20. Gần 15 giờ, chiếc thiết giáp đi đầu mới tới La Ngà. Đoàn xe dừng lại để viên chỉ huy đoàn xe vào cứ điểm La Ngà hỏi tình hình, đồng thời điện cho đại tá Talès, chỉ huy khu vực Đồng Nai Thượng đề nghị cho đoàn xe nghỉ lại ở La Ngà vì trời chiều không thể đến Đà Lạt trước khi trời tối. Talès trả lời rất dứt khoát: “Không được, phải tiếp tục đi ngay, đây là khu vực đã bình định rồi”. Tên chỉ huy đoàn xe vẫn nghi ngờ, điện xin cho quân hộ tống từ Đà Lạt xuống đón đoàn. Lần này Talès quát lên: “Đi ngay!”. Cả đoàn xe lại chuyển bánh.

Trên đường đi, bọn lính hộ tống không ngừng bắn ầm ầm 2 bên đường, nhất là ở những đoạn đường quanh co, khúc khuỷu nhằm trấn tĩnh tinh thần bọn sĩ quan và hành khách đi trong đoàn. Bọn địch không ngờ những phát đạn loạn xạ của chúng lại báo hiệu cho ta biết trước để chuẩn bị chiến đấu.

15 giờ 2 phút, trận địa C báo cáo về chỉ huy sở: 3 xe chở lính hộ tống khoảng hơn 1 trung đội, rồi đến một tốp 11 chiếc khác vừa xe quân sự vừa 1 ô tô buýt chở hành khách. Tốc độ đoàn xe 30km/giờ, khoảng cách các xe trên dưới 100 mét. Chưa có triệu chứng gì tỏ ra địch đã biết có quân phục kích. Chúng bắn rất bừa bãi... bộ đội ta vẫn ẩn nấp kín đáo.

Trận địa B kế tiếp báo cáo: địch đang tiến qua trận địa B. Trong xe jeep có nhiều sĩ quan, đã trông thấy 1 đại tá và 1 tên thiếu tá.

Địch tiến vào trận địa, đoàn xe uốn mình tiến lên trườn qua những cung đường quanh co, khúc khuỷu, bụi cuốn mù mịt.

15 giờ 12 phút, Ban chỉ huy ra lệnh, những quả địa lôi ở trận địa A phát nổ làm chấn động cả núi rừng. Chiếc thiết giáp đi đầu đang xuống dốc đoạn cua quẹo bị địa lôi hất bổng lên khỏi mặt đất, lao thêm khoảng 10m nữa rồi nằm bẹp dí trên đường. Trong 3 chiếc xe chở lính đi sau thì có 2 chiếc trúng địa lôi ngã lật nhào, nhiều lính chết trong đó có tên chỉ huy đoàn xe và tên phụ trách máy thông tin.

15 giờ 14, địa lôi trận địa C nổ. Núi rừng như chuyển mình. Tiếng bộ đội ta hô “xung phong”, làm bọn địch đang mệt mỏi thêm khiếp vía kinh hồn, vứt súng đạn, xô đẩy nhau nhảy ra khỏi xe chạy dạt sang phía đông quốc lộ 20, phần lớn bị hỏa lực ta bắn hạ.

Ở trận địa A, xe địch ngã đổ ngổn ngang. Bộ đội ta nổ súng và xung phong mãnh liệt, địch hoàn toàn bị tê liệt không kịp phản ứng, nhiều tên đưa tay đầu hàng. Trong số địch bị chết có nhiều sĩ quan: Đại tá De Sérigné, Chỉ huy bán lữ đoàn Lê dương thứ 13 (13è DBLE); đại tá Patruit, Phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất của quân Pháp ở Nam Đông Dương; thiếu tá chỉ huy khu vực quân sự Hóc Môn; đại úy Jean Couvreur, Trưởng phòng xe hơi trong Bộ Tổng tham mưu quân đội Pháp ở Đông Dương...

Ở trận địa B, bộ đội ta xung phong, tập trung hỏa lực bắn vào 4 xe chở lính hộ tống, dùng đạn lửa bắn vào các xe vận tải quân sự. Bọn địch rối loạn hàng ngũ không kịp chống trả, 28 xe địch bị diệt gọn trong vòng 5 phút, 56 tên địch chết.

Ở trận địa C, bộ đội ta xung phong chiếm được 3 xe chở lính, 13 xe vận tải quân sự. Tốp đi sau cùng của đoàn xe nổ súng bắn trả khá quyết liệt, kết quả 31 tên lính chết trên mặt đường nhưng một số xe quay đầu chạy ngược về La Ngà.

Đến 15 giờ 57, trận đánh kết thúc, đoạn đường dài hơn 10km trên quốc lộ 20 lửa khói vẫn còn bốc cao, thỉnh thoảng vang lên những tiếng nổ lớn phát ra từ các xe quân sự của địch bị cháy, từ những bánh xe bị cháy nổ.

Gần 17 giờ, 3 chiếc máy bay của Pháp lên ứng cứu, nhưng do trận địa trải dài, địch cũng không làm gì được, chỉ gầm rú hòng uy hiếp ta, hơn nữa chúng còn bị thu hút vào các trận địa giả (ta đốt những đống lửa lớn) ở phía Đông Quốc lộ 20. Máy bay địch chỉ bắn loạn xạ một lúc thì quay đầu rút ngay.

Nửa đêm, viện binh địch từ Đà Lạt xuống và từ Sài Gòn, Biên Hòa lên đến được khu vực La Ngà. Chiến trường còn loang mùi thuốc súng, khói lửa với 59 xác xe quân sự cháy trơ khung sắt và 150 xác địch chết ngổn ngang trên đường.

Kết quả trận phục kích giao thông La Ngà, Chi đội 10 phá hủy 59/70 chiếc xe quân sự Pháp; diệt 150 lính Pháp, 25 sĩ quan Pháp trong đó có 1 đại úy, 1 thiếu tá, 2 đại tá. Bộ Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi điện khen và tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho Chi đội 10 trong trận thắng La Ngà.

Ngay sau khi trận đánh kết thúc, bộ đội ta rút về tập trung ở khu vực Suối Cát; cùng đi có 270 tù binh và hành khách đi cùng đoàn xe. Một số binh lính địch bị thương không đi được và khoảng 50 thường dân đa số là người già, trẻ em, người tu hành... Ban Chỉ huy cho tập trung về chỉ huy sở, tất cả được cấp cơm vắt, cá khô, nước uống và chăm sóc vết thương. Sau khi được giải thích về chủ trương chính sách của Chính phủ, Việt Minh, ta cho phóng thích 50 người này về trước. Đồng thời thông qua số người này loan tin cho người dân ở Sài Gòn biết tất cả những thường dân cùng đi trong đoàn xe và một số binh lính Pháp bị bắt sẽ được Việt Minh cho trở về nhà.

Thật cảm động khi diễn ra cuộc chia tay giữa hành khách và bộ đội, một dì Phước tháo xâu chuỗi thánh giá của mình choàng lên cổ trung đội trưởng Lê Ngọc Sinh, chắp tay lẩm bẩm: “Cầu Chúa ban phước lành cho chiến sĩ Việt Nam”. Chính tư cách người chiến sĩ cách mạng, với địch thì chiến đấu kiên cường, nhưng với nhân dân thì chân tình thân ái cảm hóa được nhân dân, cả đối với những người tu hành vốn xa lạ với kháng chiến.

Đêm 1/3/1948, trong số 219 người thành viên đoàn xe được bộ đội đưa về Suối Cát, người Việt, Ân Độ, Hoa, Pháp đều có cả, trong đó có một số trí thức người Pháp, một số thanh niên nam nữ, sinh viên học sinh trong nội thành. Trong ánh lửa bập bùng giữa rừng đại ngàn, bộ đội, cán bộ quân y, cấp dưỡng đến thăm hỏi từng người một, cung cấp lương thực, nước uống. Người dân nội thành đặc biệt lớp trẻ lần đầu tiên tiếp xúc với thiên nhiên hùng vĩ, tiếp xúc với những bộ đội kháng chiến hiền lành, chân thực thực sự khâm phục thái độ ân cần của cán bộ, chiến sĩ ta. Một số thanh niên trong thành bất ngờ gặp lại những người bạn học xưa xếp bút nghiên lên đường chiến đấu ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, nay trở thành những cán bộ chỉ huy, những chiến sĩ kiên cường, rắn rỏi. Chuyện kháng chiến làm cho bà con thêm khâm phục ý chí và nhân cách người chiến sĩ cách mạng.

Ban Chỉ huy Chi đội 10 định tổ chức buổi chia tay liên hoan văn nghệ, nhưng nhận được tin quân Pháp đang chuẩn bị phản kích và văng vẳng đã nghe tiếng súng của chúng từ hướng quốc lộ 20. Buổi liên hoan không thành. Cuộc chia tay giữa bộ đội Chi đội 10 và bà con ngay bờ sông Đồng Nai - nơi chiến sĩ gọi là bến Tâm giao thật bịn rịn. Nắm cơm, cá khô, phần ăn của bộ đội nhường cho bà con hành khách không chỉ là lương thực, mà trở thành món quà có ý nghĩa trước lúc đoàn hành khách qua sông trở lại quốc lộ 20 về Sài Gòn.

Sáng sớm 2/3/1948, hàng loạt tờ báo tiếng Việt xuất bản ở nội thành đều đưa tin về trận đánh thắng La Ngà với những hàng tít lớn: “Một trận phục kích lớn lao chưa từng có!”, “90% đoàn xe có lính hộ tống bị Việt quân hủy diệt”, “Đại tá De Sérigné chỉ huy bán lữ đoàn Lê dương thứ 13 tử trận”, “150 binh sĩ thiệt mạng, trong đó có một số mất tích”...

Từ đại lộ đến ngõ hẻm, bến xe, tiệm cà phê, hủ tíu, chợ, nhà hàng đâu đâu người dân cũng bàn tán trao đổi về trận La Ngà với lòng khâm phục. Các chủ hãng xe đò ở Sài Gòn đều bảo nhau không nên cho xe khách đi cùng các đoàn xe quân sự Pháp kẻo bị “họa lây” như ở La Ngà. Phòng thông tin Sài Gòn chật ních người, đa phần là giới tư bản, người Pháp đến nghe ngóng về số phận thân nhân họ có trong số 150 sĩ quan, binh lính chết trận La Ngà hay không.

Từ khi trở lại xâm lược nước ta đến thời điểm 1948, có lẽ thực dân Pháp chưa từng bị thua đau như ở trận La Ngà ngày 1/3/1948. Bọn Pháp ở Sài Gòn trong các bản tin, báo cáo của mình về chính quốc vẫn cố tình bưng bít thất bại này. Thế nhưng, chết trong trận La Ngà lại có Đại tá De Sérigné, thuộc dòng dõi quý tộc Pháp, nên được thực dân tổ chức lễ tang theo nghi thức long trọng nhất tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn và xác được đưa về Pháp bằng máy bay. Ngay sau đó, nhiều câu hỏi đặt ra với Quốc hội nước Pháp rằng cần xem xét lại báo cáo của những tên tướng chỉ huy ở Nam Bộ: vì sao đã tuyên bố bình định xong Nam kỳ, lại có thể xảy ra trận thua đau ở La Ngà? De La Tour, chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ (1947-1949) cho điều tra sự thật, quy tội cho Đại tá Tales tại sao không cho quân tăng cường sớm từ Đà Lạt để cả đoàn xe bị tiêu diệt. Quá lo sợ trách nhiệm, Đại tá Tales đã tự sát.

Trong trận La Ngà, trung úy người Pháp Joeffrey bị thương ở chân, thay vì phải cưa chân thì quân y Chi đội 10, trực tiếp là bác sĩ Võ Cương đã chăm sóc, điều trị giữ cho hắn nguyên lành. Vợ và con của viên trung úy này được ta phóng thích đầu tiên cùng 50 hành khách về Sài Gòn trước đó. Và vài tháng sau, Ban Chỉ huy Chi đội 10 cử nữ y tá Lương Ngọc Tương cùng cán bộ quân y trao trả trung úy Jorffrey tại chi khu Cây Đào (huyện Vĩnh Cửu). Cả vợ chồng viên trung úy trước sự chăm sóc chu đáo và tinh thần nhân đạo của bộ đội Việt Minh không chỉ nhận ra chính nghĩa của quân kháng chiến, mà còn lớn tiếng phê phán cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Vợ của viên trung úy Jorffrey nói: “Từ trước tôi chỉ biết về quân đội Việt Nam qua các tờ báo Caravelle và báo Sài Gòn (Journal de Saigon). Nhưng nay tôi mới thấy rõ sự thật. Chính chồng tôi cũng đã nói với tôi: “Anh không có cảm tưởng rằng mình là một tù binh, họ cứu chữa cho anh rất tận tâm, như đối với người bạn thân của họ; họ rất nhân đạo và yêu chuộng hòa bình”.

Còn nhà báo Raoul Miche, cựu chủ bút tờ báo Bạn Dân (Ami du peuple) người “chết hụt” trong trận La Ngà, khi trở về Sài Gòn, được bạn bè hỏi đã tuyên bố: “Chúng mình cần nói đúng sự thật, mà sự khác hẳn những gì chúng ta đã từng viết”.

Phát biểu của 2 chứng nhân sống sau trận đánh La Ngà không phải ngẫu nhiên. Đó chính là phát biểu phản ánh kết quả thực tế mà họ đã nhìn, đã chứng kiến tận mắt hành động anh dũng, quả cảm và tinh thần nhân đạo, kỷ luật chiến trường của bộ đội ta trong trận La Ngà. Phát biểu khẳng định của những nhân chứng người Pháp có sức mạnh cảm hóa tư tưởng binh lính Pháp còn hơn cả súng đạn.

Trong một trận đánh ở Đồng Lách (Vĩnh Cửu) tháng 8/1948, 14 lính Lê dương Pháp đã ra hàng tại trận, vì không muốn chết cho cuộc chiến phi nghĩa của Pháp và tin vào lòng nhân đạo của kháng chiến. Tháng 8/1948, 2 lính Pháp ở bót Rạch Đông (Vĩnh Cửu) ban đêm đã vượt sông Đồng Nai mang theo một khẩu súng đại liên, một súng trung liên sang Chiến khu Đ xin hàng. Họ nói: “Chúng tôi chán ghét chiến tranh, muốn ra hàng nhưng sợ bị giết. Nay, qua việc quân Việt Minh thả người bị bắt ở La Ngà, chúng tôi biết Việt Mình rất nhân đạo không như bọn chỉ huy quân Pháp nói láo, nên có điều kiện chúng tôi ra hàng”.

Trong cuộc họp quân sự toàn Khu 7 ngày 28/3/1948, Bộ Tư lệnh Khu đã đánh giá: “Đánh trận La Ngà ta đã thắng lợi cả về quân sự lẫn chính trị, thắng lợi về quân sự là lớn, nhưng thắng lợi về chính trị còn lớn hơn. Các chiến sĩ La Ngà không những đã anh dũng đánh giặc mà còn biết làm công tác tuyên truyền rất khéo léo. Bằng những hành động thực tế của mình đã làm cho nhân dân tin tưởng, quý mến, kẻ thủ phải khiếp sợ và khâm phục. Trận La Ngà chứng tỏ bộ đội Khu 7 nói chung, bộ đội Biên Hòa nói riêng có bước trưởng thành về nhiều mặt”.

Đêm 2/3/1948, tại Suối Cát (Xuân Lộc) khi chia tay tiễn đoàn hành khách trở về Sài Gòn, Chi đội phó Nguyễn Văn Lung, người trực tiếp chỉ huy trận phục kích La Ngà, lệnh cho các chiến sĩ chi đội nhanh chóng lên đường hành quân vượt sông, vượt rừng nhanh chóng trở về Chiến khu Đ. Với quyết tâm cao nhất, dù còn đang mỏi mệt sau trận đánh nhưng tốc độ hành quân của lực lượng rất cao. Nếu khi đi, đoạn đường từ Chiến khu Đ đến La Ngà mất 3 ngày, thì khi hành quân ngược lại đơn vị chỉ mất 2 ngày đêm. Thực dân Pháp không thể ngờ tốc độ hành quân của bộ đội ta nhanh đến thế, vậy là cuộc truy kích của địch không thành.

8 giờ 30 sáng 5/3/1948, thực dân Pháp cho 3 máy bay khu trục lên quần đảo bắn phá vào Chiến khu Đ, sau đó 5 chiếc máy bay vận tải thả quân nhảy dù xuống Đất Cuốc. Đồng thời, địch cho 1 ngàn bộ binh từ nhiều hướng có tàu chiến trên sông, và xe cơ giới trên bộ bao vây tấn công vào Chiến khu Đ.

Nhờ có chuẩn bị trước, trung đội còn lại của đại đội A chủ động phân tán, phối hợp với dân quân du kích các xã và cơ quan trong căn cứ đánh tỉa, thu hút địch, tạo điều kiện cho lực lượng mới trở về có thêm thời gian dưỡng sức, bố trí đội hình đánh địch.

Trong 2 ngày 5 và 6/3, địch lùng sục nhưng không gặp sự chống trả lớn, lại bị dân quân du kích bắn tỉa diệt trên 60 tên. Mờ sáng 7/3, bộ đội ta bắt đầu mở các trận tập kích vào bọn địch. Tại dốc Bà Nghiêm (xã Tân Hòa), trung đội 7 của Đại đội C diệt 20 tên, thu nhiều vũ khí và quân trang quân dụng. Địch cứ lùng sục, nhưng quân ta khi phân tán, lúc tập trung, khi ẩn khi hiện, buộc chúng phải căng thẳng đối phó, số binh lính bị diệt, bị thương ngày một nhiều.

Sau 8 ngày càn vào Chiến khu Đ, quân Pháp chết và bị thương trên 100 tên, phải rút lui. Không tiêu diệt được lực lượng kháng chiến, quân Pháp bắn giết 20 thường dân vô tội, trong đó có 7 phụ nữ và 3 trẻ em. Chúng đốt sạch nhà dân, giết hơn 100 trâu bò và đốt 500 giạ lúa của dân cùng trụ sở các cơ quan.

Thật ra ý đồ chính của bọn chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ khi càn vào Chiến khu Đ còn nhằm đánh lạc hướng dư luận, đặc biệt là dư luận trong Quốc hội và Chính phủ Pháp sau trận La Ngà khi Bộ Tổng Tham mưu quân viễn chinh Pháp ra thông báo: đang truy kích ráo riết gây thiệt hại cho Việt Minh. Thậm chí chúng trắng trợn còn báo cáo sai sự thật: đã giải thoát được một số quân lính Pháp và thường dân bị bắt trong trận La Ngà...

Có thể thấy, điểm nổi bật của Chi đội 10 Biên Hòa là hầu hết cán bộ chỉ huy từ chi đội đến đại đội, trung đội, phân đội từ đầu chưa từng được học tập trong một trường quân sự nào có tính chất chính quy. Họ trưởng thành bởi lòng yêu nước, quyết tâm kháng chiến, thông qua việc xác định đặc điểm chiến trường, thông qua thực tiễn chiến đấu trên chiến trường và thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng bộ, Bộ Tư lệnh Khu 7 giao cho.

Ban Chỉ huy Chi đội 10 có nhiều ý tưởng sáng tạo độc đáo trong tổ chức lực lượng và chỉ huy chiến đấu. Chỉ hơn 4 tháng sau khi thực dân Pháp quay lại đánh chiếm Nam Bộ, kiểm soát các đô thị, thị xã, thị trấn, bộ đội Biên Hòa cùng các lực lượng vũ trang bạn đã tổ chức tập kích vào trung tâm tỉnh lỵ Biên Hòa, nơi đặt nhiều cơ quan chỉ huy của Pháp ở miền Đông Nam Bộ, quả là một ý tưởng táo bạo, một sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng.

Chi đội 10 Biên Hòa đã hoàn thành nhiệm vụ là bộ đội chủ lực Khu 7, nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh ở địa phương. Với những thành tích trên, Chi đội 10 đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu tập thể Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào tháng 9/2014

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chi đội 10, tỉnh Biên Hòa | Câu chuyện thời hoa lửa