Khác

CHI ĐỘI 3 GIẢI PHÓNG QUÂN NAM TIẾN

Đoạn văn kể về quá trình thành lập, hành quân Nam tiến và chiến đấu của Chi đội 3 Giải phóng quân (chi đội Nam Long) sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945. Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, chi đội được thành lập ở Thái Nguyên, sau đó hành quân từ Hà Nội vào Nam để chi viện cho chiến trường Nam Bộ khi thực dân Pháp quay lại xâm lược. Trên đường hành quân, chi đội được nhân dân các địa phương ủng hộ, bổ sung lực lượng và tham gia nhiều trận chiến ở Thủ Đức, Biên Hòa, Xuân Lộc, Phan Thiết và đặc

17/03/2026Không có2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ địa đầu cực bắc của núi rừng Việt Bắc, căn cứ địa cách mạng của cả nước, theo chỉ thị của Bác Hồ, sau khi thành lập đội vũ trang tập trung đầu tiên, các đội xung phong Nam tiến mở "4 con đường quần chúng cách mạng" từ Cao Bằng về miền xuôi.


Sau khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Việt Nam giải phóng quân, ngày 13 tháng 8 năm 1945 tại Thịnh Đán, Thái Nguyên chi đội 3 giải phóng quân được thành lập gồm 3 đại đội (đại đội Đàm Quang Trung, đại đội Đàm Quốc Chủng, đại đội Đào Mạnh Vy) và trung đội hỏa lực Hồng An do đồng chí Lâm Kính làm chi đội trưởng và đồng chí Phương Cương làm chi đội phó.


Chi đội 3 giải phóng quân là một trong những chi đội mạnh đầu tiên của Việt Nam giải phóng quân, là lực lượng xung kích cùng nhân dân địa phương giải phóng thị xã Thái Nguyên. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, chi đội 3 và chi đội 4 giải phóng quân được lệnh về Hà Nội làm nhiệm vụ phối hợp cùng địa phương bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ lâm thời và Hồ Chủ tịch.


Chi đội 3 lúc này chỉ còn một đại đội do đồng chí Mông Phúc Thơ làm đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Rạng làm chính trị viên. Đại đội gồm 3 trung đội (Hồng An, Hiền Quân, Thanh Cao).


Đầu tháng 9 năm 1945, chi đội 3 được bổ sung một trung đội gồm 32 người tuyển chọn từ các đơn vị giải phóng quân Hà Nội với đầy đủ trang bị do đồng chí Mông Phúc Thơ làm chi đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Rạng làm chính trị viên. Chi đội 3 là chi đội đầu tiên sẵn sàng nhận nhiệm vụ Nam tiến.
Chi đội là một đội vũ trang đã được rèn luyện, thử thách trong Cách mạng tháng Tám. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ là con em các dân tộc Việt Bắc đã trải qua chiến đấu, quen với chiến trường rừng núi. Số đội viên mới bổ sung ở Hà Nội vào được biên chế thành một trung đội thường gọi là trung đội học sinh Hà Nội bởi phần lớn là học sinh, sinh viên trẻ, một số là công nhân, tất cả đều đã tham gia nhiều cuộc đấu tranh chính trị, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, là tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu nay tình nguyện gia nhập giải phóng quân sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì và đi bất cứ nơi nào mà cấp trên giao.


Đêm 9 rạng 10 tháng 9 năm 1945, chi đội lặng lẽ ra ga Hàng Cỏ Hà Nội lên tàu hỏa hướng về phía Nam làm nhiệm vụ "tuần hành vũ trang". Đến Thanh Hóa, chi đội được bổ sung lực lượng, tranh thủ thời gian huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị và được tổ chức thành 2 đại đội: Hồng An, Hiền Quân.


Ngày 23 tháng 9 năm 1945, giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn. Thường vụ Trung ương Đảng và Chính phủ hạ quyết tâm Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập của dân tộc, kêu gọi cả nước chi viện sức người, sức của cho Nam Bộ và quyết định tổ chức các đơn vị Nam tiến cấp tốc hành quân vào phối hợp với quân dân miền Nam chiến đấu.


Ngày 26 tháng 9, chi đội 3 làm lễ xuất phát tại thị xã Thanh Hóa và lên tàu hỏa vào Nam. Ngày 27 tháng 9, được bổ sung thêm một trung đội, chi đội thành lập đại đội Thắng Lợi gồm 3 trung đội: trung đội học sinh Hà Nội, trung đội Thanh Hóa, trung đội Vinh. Ngày 28 tháng 9 đến Huế, 29 tháng 9 đến Quảng Ngãi. Ủy ban kháng chiến Trung Bộ quyết định tổ chức một đại đội gồm hai trung đội 1 và 3 giải phóng quân Huế, sáp nhập vào chi đội 3. Chi đội do đồng chí Mông Phúc Thơ làm chi đội trưởng, đồng chí Nam Long làm chính trị viên. Toàn chi đội tiếp tục đi tàu hỏa đến Diêu Trì rồi đi ô tô đến Quy Nhơn. Ngày 1 tháng 10, chi đội đến Lương Sơn (Nha Trang). Tại đây, theo yêu cầu của đồng chí Hoàng Đình Giong, người được Trung ương cử vào chỉ huy quân sự ở Nam Bộ, đồng chí Nam Long điều đại đội Hồng An (thiếu 1 trung đội) bảo vệ đồng chí Giong đi trước vào miền Tây Nam Bộ.


Khi chi đội đến Phan Thiết, Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ đã huy động ô tô ra đón. Ngày 5 tháng 10, chi đội chia làm hai bộ phận:

- Bộ phận do đồng chí Mông Phúc Thơ phụ trách đi tàu hỏa vào Thủ Đức.

- Bộ phận do đồng chí Nam Long phụ trách hành quân bằng ô tô vào Biên Hòa.


Vào đến Biên Hòa, đồng chí Nam Long cùng các đồng chí Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Đào Duy Kỳ, Phạm Văn Bạch, Bùi Công Trừng, Thanh Sơn họp ban và thống nhất chủ trương nhanh chóng bao vây, đánh chặn không cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng, nhất là ra hướng đông Sài Gòn.


Ngày 6 tháng 10, toàn chi đội đến Thủ Đức. Từ Hà Nội vào Thủ Đức, qua các địa phương, chi đội đều được đảng bộ, chính quyền và đông đảo nhân dân đón tiếp rất nồng nhiệt, được bổ sung thêm những người con ưu tú và những vũ khí tốt. Các địa phương còn tạo mọi điều kiện thuận lợi về ăn, ở, nhất là phương tiện cơ động để chi đội nhanh chóng vào Nam Bộ chiến đấu.


Có thể nói, ngay từ những ngày đầu, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự điều động của trên, chi đội 3 giải phóng quân đã tổ chức hành quân bằng nhiều phương tiện trên chặng đường dài từ Hà Nội vào Thủ Đức. Trong khoảng gần một tháng, vừa hành quân, vừa củng cố lực lượng, vừa tổ chức chiến đấu chi đội đã vào sớm nhất, vào sâu nhất, kịp thời cùng quân và dân Nam Bộ chiến đấu ngăn chặn, làm chậm bước tiến của thực dân Pháp xâm lược, góp phần tạo điều kiện cho cả nước có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.


Tại Thủ Đức, các đồng chí Hà Huy Giáp, Nam Long, Mông Phúc Thơ, Phan Đình Công đã bàn và thống nhất kế hoạch chiến đấu cụ thể:

- Trước tiên đánh chiếm và phá cầu Bình Lợi để chặn không cho địch sang bờ bắc sông Sài Gòn. Đêm 10 tháng 10 dùng tàu hỏa chở 2 đại đội, mỗi toa chở 1 tiểu đội, xung quanh đặt bao cát. Một đại đội diệt trung đội lính khố xanh gác đầu cầu phía nam, một đại đội diệt trung đội gác đầu cầu phía bác. Kỹ sư cầu cống chỉ huy phá cầu.

- Nghiên cứu đánh một số mục tiêu trong nội thành Sài Gòn. Sáng 10 tháng 10, các đồng chí Nam Long, Mông Phúc Thơ, Phan Đình Công cùng đồng chí kỹ sư và một tổ trinh sát đi nghiên cứu thực địa cầu Bình Lợi, liên lạc được với du kích Gia Định thống nhất kế hoạch khi phá cầu Bình Lợi thì du kích cũng phá cầu Ban Ky. Nhưng khi quay về thì quân Anh, Ấn, Nhật đã chiếm cầu Bình Lợi và ở Thủ Đức bọn Nhật đang đào công sự chiến đấu.

Chỉ huy chi đội 3 nhanh chóng triển khai 2 đại đội cùng với lực lượng địa phương chặn đánh địch ở cầu Bình Lợi.

Tin trinh sát cho biết ở đầu cầu phía bắc có 4 lính Nhật gác (thay cho trung đội lính khố xanh), đồng chí Thắng Lợi phái một tổ 6 người, có 1 đồng chí biết tiếng Nhật, bí mật tiếp cận, bất ngờ xông vào bốt gác chĩa súng vào bọn Nhật và hô "bỏ súng xuống, ra phía sau. Chúng tôi đã chiếm bốt, các anh được an toàn". Bọn Nhật không phản ứng, lặng lẽ rút qua cầu về bờ nam.


Ngày hôm sau (11 tháng 10), quân Anh tổ chức tiến công hòng chiếm lại bờ bắc, song bị ta đánh mạnh, truy kích sang bờ nam và đốt bốt nên buộc phải rút về. Những ngày 12, 13, 14, 15 tháng 10, địch liên tục tấn công, dùng nhiều súng cối, phóng lựu kết hợp cả ca-nô đánh sang bờ bắc nhưng đều bị quân ta chặn đứng, bị tiêu hao lực lượng.


Thời gian này, Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ được thành lập, đồng chí Mông Phúc Thơ đươc cử làm ủy viên quân sự. Chi đội 3 giải phóng quần do đồng chí Nam Long chỉ huy và từ đây gọi là chi đội Nam Long.


Tại Thủ Đức, một sĩ quan Nhật đến gặp đồng chí Hà Huy Giáp báo tin chúng đã nhận được lệnh phải đánh vào đằng sau quân ta và để tránh đánh nhau không có lợi cho ta thì ta nên rút, khi rút hai bên chỉ bắn chỉ thiên.


Đồng chí Hà Huy Giáp bàn với đồng chí Nam Long, so sánh lực lượng giữa ta và Nhật quá chênh lệch không có lợi cho ta. Ta lại chưa chuẩn bị đề phòng phía sau nên ra lệnh rút về Long Thành, Tân Mai, Biên Hòa. Ngày 23 tháng 10, đồng chí Nam Long nhận được lệnh chuyển quân về giữ Xuân Lộc. Quân địch ở Xuân Lộc rất đông, chúng đóng nhiều đồn bốt rải ra trên toàn huyện, tập trung nhiều ở khu Suối Tre và thị trấn. Các lực lượng vũ trang của ta tập trung về đây cũng đông và phức tạp, gồm du kích, tự vệ của nhiều địa phương như chi đội Vĩnh, chi đội Vy, chi đội Nam Long, bộ đội Bình Xuyên, đệ nhất sư đoàn... không có sự chỉ huy thống nhất. Quân ta tổ chức phòng ngự trận địa rải mỏng lực lượng, chặn địch trên đường số 1 là chính. Từ 0 giờ 30 phút ngày 30 tháng 10, quân Nhật tập kích quân ta, chúng bò đến gần dùng lựu đạn, lưỡi lê đánh gần, nhưng bị quân ta dũng cảm chặn đánh trên từng chặng, bị một số thiệt hại. Đến 16 giờ, đồng chí Mông Phúc Thơ ra lệnh rút về Phan Thiết. Một bộ phận lẻ vẫn tiếp tục đánh địch cho đến mấy ngày sau mới rút.


Đầu tháng 11 năm 1945, ở Phan Thiết tập trung rất đông quân từ miền Bắc mới vào chi viện cho Nam Bộ. Quân của nhiều đơn vị, nhiều địa phương từ Nam Bộ rút ra cũng tập trung ở đây. Cũng trong thời gian này, Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ đổi thành Ủy ban kháng chiến đặc khu Phan Thiết do đồng chí Đào Duy Kỳ làm chủ tịch, đồng chí Mông Phúc Thơ và đồng chí Nam Long làm ủy viên quân sự, chủ trương: "Lấy Phan Thiết, Bình Thuận làm bàn đạp, phản công lấy lại các vùng bị chiếm, từ miền Đông Nam Bộ tiến vào giải phóng Sài Gòn".


Chi đội Nam Long được củng cố, nhanh chóng triển khai sẵn sàng chiến đấu:

- Đại đội Thắng Lợi bố trí ở khu vực ga.

- Đại đội Phan Hạo bố trí ở Lạc Đạo, Phú Tải.


Quân Nhật ở Phan Thiết chỉ có 1 đại đội nên không hoạt động gì. Ngày 9 tháng 11 chúng được tăng cường 1 tiểu đoàn. 6 giờ sáng ngày 11 tháng 11, quân Nhật tấn công đánh chiếm các công sở trong thị xã. Quân ta trên 3 mặt trận: nhà ga, ngã ba Nhà thương và rừng Cây Dương ngoan cường chặn đánh giành giật từng mục tiêu trong thị xã. 17 giờ 13 tháng 11, ta mở đợt phản công đồng loạt trong toàn thị xã, chiếm lại được nhà ga, nhà hàng Xê-ra-nô (trụ sở Ủy ban nhân dân lâm thời), thu được một số vũ khí. Nhưng vì lực lượng ta có hạn nên phải chuyển sang bao vây địch trong những ngày sau. Ủy ban kháng chiến đặc khu họp tại Bình An (huyện Hàm Thuận) có các đồng chí Đào Duy Kỳ, Hà Huy Giáp, Cao Thanh Trà, Nguyễn Sắc Kim, Nam Long, Mông Phúc Thơ tham dự đã quyết định thành lập:

- Chi đội 1 do các đồng chí Mông Phúc Thơ, chi đội trưởng, Đào Mạnh Vy chi đội phó, Nguyễn Sắc Kim chính trị viên, hoạt động ở tỉnh Bình Thuận.

- Chi đội 2 do các đồng chí Cao Thanh Trà chi đội trưởng, Lê Tự Nhiên chính trị viên hoạt động ở tỉnh Ninh Thuận.

- Chi đội 3 (trừ đại đội Phan Hạo) do đồng chí Nam Long chi đội trưởng được bổ sung 2 trung đội rút ra tăng viện cho Phan Rang.


Ngày 14 tháng 11, chi đội 3 tập kết ở Ma Lâm. Ngày 15 tháng 11 đi tàu hỏa và ô tô ra Phan Rang.

Tại Phan Rang, quân Nhật có 1 đại đội gồm 4 trung đội rất ngoan cố, không chịu thương lượng với ta, buộc ta phải nộp vũ khí. Đêm 10 tháng 11 lực lượng ta gồm 6 trung đội địa phương và nhiều du kích, tự vệ chiến đấu bao vây địch. Sáng 11 tháng 11 ta tấn công, nhưng địch phản công mạnh, đánh bật quân ta ra ngoài thị xã gây cho ta một số thiệt hại, riêng trung đội cảm tử Dư Khánh bị thiệt hại nặng. Đêm 11 tháng 11, địch rút về cố thủ ở 4 nơi: dinh Công sứ, trường tiểu học, nhà thương Phan Rang và khu chợ Lò lợn. Sau khi đi trinh sát; về, đồng chí Nam Long đã cùng các đồng chí lãnh đạo địa phương chủ trương tiếp tục bao vây toàn bộ quân địch và tập trung lực lượng lấy chi đội 3 là lực lượng chính tiêu diệt từng điểm một.


Sáng 17 tháng 11, ta bắt đầu tiến công. Địch chống cự rất mạnh, có mục tiêu ta và địch phải giành đi giật lại từ 2 đến 3 lần. Ta có dùng một khẩu pháo 25 ly nhưng chỉ bắn được 3 phát thì bị hóc đạn. Ta cũng dùng một số đông du kích, tự vệ đánh chiêng, trống... gây tiếng nổ to để uy hiếp tinh thần quân địch. Ta tấn công liên tục, dồn địch dần dần phải co về cố thủ ở dinh Công sứ. 3 giờ ngày 24 thảng 11, một số địch bí mật vượt sông Dinh rút lên hướng Vườn Xoài, Đá Trắng bị bộ phận chặn bên sông Dinh và du kích các buôn đánh diệt một số.


Được tin địch rút chạy, các hướng bao vây của chi đội Nam Long và của địa phương đều ồ ạt tấn công vào dinh Công sứ, tiêu diệt một số địch còn lại hòng ngăn chặn ta truy kích. Quân ta diệt, bắt sống toàn bộ quân địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Chi đội Nam Long cũng bị thương vong một số, đồng chí Thắng Lợi đại đội trưởng anh dũng hy sinh.


Trận Phan Rang là trận đánh tiêu diệt đầu tiên và giải phóng hoàn toàn một thị xã. Giải phóng Phan Rang góp phần buộc quân Nhật phải rút khỏi Phan Thiết (12 tháng 12 năm 1S45), góp phần làm thất bại âm mưu dùng quân Nhật thay quân Pháp chiếm đóng trở lại các tỉnh Nam Trung Bộ, bước đầu cùng nhân dân các tỉnh miền Nam đánh bại âm mưu chiến lược "đánh nhanh, giải quyết nhanh" của địch.

Thời gian chi đội 3 giải phóng quân tồn tại ngắn, phạm vi hoạt động hẹp, nhưng ý nghĩa vô cùng sâu sắc:

1. Lòng yêu nước, truyền thống quật cường Việt Nam là nguồn gốc của mọi ý nghĩ và hành động cách mang của người dân Việt Nam. Một dân tộc có hàng nghìn năm lịch sử, có bề dày truyền thống chiến thắng quân xâm lược lại được lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh lãnh đao. Dân tộc Việt Nam là một, Nam Bắc là một nhà.


Ngày 8 tháng 2 năm 1941, khi trở về nước, đặt chân lên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc, Bác Hồ đã chỉ thị: "... Từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa có thể tiếp xúc với toàn quốc được"1 (Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.33). Trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tháng 12 năm 1944), Bác Hồ đã chỉ rõ, "đó là đội quân đàn anh... có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, tr.378). Từ đó những "đội xung phong Nam tiến" được tổ chức và những "con đường quần chúng cách mạng" được mở ra liên tục cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 23 tháng 9, cuộc kháng chiến bùng nổ ở thành phố Sài Gòn. Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động cả nước: "Phải trút toàn lực vào đó. Hy sinh hết thảy vì kháng chiến, hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam", cả nước đã hưởng ứng, các tỉnh, thành đều thành lập những đơn vị Nam tiến. Nam tiến là biểu tượng hào hùng của cả nước ra trận, là biểu hiện mới của tư tưởng "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ", là kết tinh mới của sức mạnh đoàn kết, thống nhất của toàn dân. cả nước đã chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.


Theo lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, cán bộ, chiến sĩ chi đội 3 đã bỏ hết mọi suy tính cá nhân, tự nguyện sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì, đi bất cứ nơi nào, chịu đựng mọi khó khăn, thiếu thốn, nguy hiểm có thể đến với tinh thần không yêu cầu một điều kiện gì, không đòi hỏi một thứ gì. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, sáng chói, họ đã chủ động khắc phục muôn vàn khó khăn, thiếu thốn vật chất, non kém về kỹ thuật... của thời kỳ đầu kháng chiến, đã dũng cảm chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong chi đội có anh chị em ở Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Nội, Thanh Hóa, Vinh, Huế... anh em Bình Xuyên, Cao Đài, Cộng hòa vệ binh... có anh chị em người Kinh, người dân tộc với đủ thành phần xã hội, nhưng từ cán bộ đến chiến sĩ hết lòng thương yêu nhau hơn anh em ruột thịt, bảo ban nhau, giúp đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau để cùng hoàn thành nhiệm vụ, nhất là những lúc khó khăn, nguy hiểm. Hai cuộc rút lui đường dài đầy khó khăn, hiểm nguy từ Xuân Lộc về Phan Thiết và từ Ma-đrẳc về Đồng Bò, chi đội 3 giữ nguyên được đội hình và sức chiến đấu là một thắng lợi.


Nhìn lại cả thời gian hoạt động, toàn chi đội đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, từ phân đội nhỏ đến chi đội chỉ hành động theo mệnh lệnh, không hề có thoái thác nhiệm vụ, không có rút lui chạy dài, không có bỏ ngũ, rã ngũ, không có hành động vô kỷ luật nghiêm trọng.


Chính do lòng yêu nước và truyền thống quật cường Việt Nam, cán bộ chiến sĩ chi đội 3 đã có tinh thần chiến đấu cao, đoàn kết keo sơn, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm và đã giành được thắng lợi.


2. Chi đội 3 là một trong những chi đội mạnh đầu tiên của Việt Nam giải phóng quân được lệnh sớm nhất vào chi viện cho miền Nam. Việc Ủy ban kháng chiến miền Đông Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến đặc khu Phan Thiết, Tư lệnh Khu 6 và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam trực tiếp điều động, sử dụng chi đội 3 giải phóng quân là lực lượng cơ động mạnh của mặt trận Đông Nam Bộ và nam phần Trung Bộ vào các trọng điểm chiến đấu trong những thời điểm quyết định của thời kỳ đầu cuộc kháng chiến là rất đúng đắn, sáng tạo.


Những chiến công của chi đội 3 cùng đơn vị bạn và nhân dân địa phương ngăn chặn địch 4 ngày đêm không cho chúng vượt sông Sài Gòn sang bờ bắc, ngăn chặn địch từng bước trên đường 1 từ Thủ Đức, Biên Hòa, Xuân Lộc đến Phan Thiết; trên đường 14 và 21 từ Buôn Ma Thuột về Ninh Hòa, bao vây địch ở Phan Thiết, Nha Trang, tiêu diệt địch giải phóng Phan Rang... là thực tiễn chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, vừa phát huy được sức mạnh của chi đội trên các mặt trận nóng bỏng nhất của chiến trường, vừa bảo tồn được lực lượng chủ lực cơ động để đánh lâu dài.


3. Trong việc xây dựng lực lượng vũ trang phải coi trọng chất lượng, xây dựng đơn vị mạnh, có bề dày truyền thống làm nòng cốt. Chi đội 3 giải phóng quân được xâv dựng về chính trị, tổ chức, trang bị và được chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ nên đã hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.


Việc chấn chỉnh hay thay đổi tổ chức trong những điều kiện nhất định là cần thiết. Việc chuyển các chi đội tổ chức thành các trung đoàn thực hiện sắc lệnh 71/SL là đúng, song cũng cần nghiên cứu giữ phiên hiệu truyền thống của một số chi đội đã có bề dày thành tích chiến đấu trong phong trào Nam tiến.


Chi đội 3 giải phóng quân (chi đội Nam Long) là chi đội đầu tiên của miền Bắc chi viện miền Nam, là một chi đội mạnh, cơ động, chủ lực của mặt trận miền Đông Nam Bộ và nam phần Trung Bộ. Chi đội chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp không thể phai mờ trong nhân dân, trong lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, nam phần Trung Bộ và trong cán bộ, chiến sĩ của chi đội.


Nhiều cán bộ, chiến sĩ của chi đội được tăng cường cho những đơn vị mới đã liên tục chiến đấu trên khắp các chiến trường cho đến ngày toàn thắng. Trong ngày vui đại thắng 30 tháng 4 năm 1975 tại Sài Gòn nhiều đồng chí đã vui mừng gặp lại nhau, trong đó có các đồng chí Nam Long, Nguyễn Tiệp, Thái Vĩnh, Khiếu Anh Lân... một cuộc hội ngộ của các chiến sĩ từng tham gia phong trào Nam tiến. 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CHI ĐỘI 3 GIẢI PHÓNG QUÂN NAM TIẾN | Câu chuyện thời hoa lửa