Bài viết

Chỉ huy đầu tiên và những ngày quyết tử của Trung đoàn Thủ đô

Ngày 06/01/1947, Trung đoàn Thủ đô được thành lập. Những chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô đã có 60 ngày đêm chiến đấu với quân Pháp xâm lược với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Hải Phòng12/01/2026Đoàn xã Ninh Giang (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Ninh Giang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công chưa được bao lâu, được sự tiếp tay của các nước đế quốc đồng minh, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Chúng đơn phương xóa bỏ mọi cam kết, không thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946; tăng cường các hoạt động quân sự, phá hoại nền hòa bình của nhân dân ta.Trong thời khắc Tổ quốc lâm nguy, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, đêm 19/12/1946 tại làng Vạn Phúc, tỉnh Hà Đông (nay là phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội), Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào lúc 20 giờ ngày 19/12/1946, bằng những loạt đại bác từ Pháo đài Láng bắn vào các mục tiêu của địch trong thành phố, quân và dân Thủ đô Hà Nội chính thức mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.Ngày 06/01/1947, theo chỉ thị của Ủy ban kháng chiến Hà Nội, tất cả các lực lượng vũ trang thống nhất lại thành một trung đoàn, lấy tên là Trung đoàn Liên khu I, tên gọi Trung đoàn Thủ đô do Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất đặt. Trung đoàn Thủ đô gồm khoảng 2.000 người, biên chế thành 3 tiểu đoàn 101, 102 và 103, tiến hành nhiều trận chiến đấu bảo vệ Liên khu I (gồm phần lớn quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội hiện nay), tiêu biểu là trận chiến đấu ở khu vực chợ Đồng Xuân, đánh giáp lá cà diệt gần 200 quân Pháp (vào tháng 02/1947). Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu hao, tiêu diệt và kìm giữ một lực lượng lớn quân Pháp tại Hà Nội trong gần 2 tháng đầu toàn quốc kháng chiến, Trung đoàn Thủ đô bí mật vượt sông Hồng, rút lui an toàn về Phúc Yên (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) vào đêm 17/02/1947. Trung đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Hoàng Siêu Hải, Lê Trung Toản.[1]Trung đoàn trưởng - Hoàng Siêu HảiĐồng chí Hoàng Siêu Hải, sinh năm 1917, người Tày, cán bộ quân sự cùng thời với những cán bộ, học trò thân cận của Chủ tịch Hồ Chí Minh như Lê Quảng Ba, Đàm Minh Viễn, Đàm Quang Trung... đã đi từ căn cứ địa Cao Bằng (Pắc Bó) về Hà Nội tham gia giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhiều người trong số họ đã trở thành những vị tướng, những vị lãnh đạo quân sự đầu tiên của chính quyền cách mạng non trẻ. Một số người được cử đi Nam tiến, số còn lại như Hoàng Sâm, Lê Thiết Hùng, Hoàng Điền, Hà Tấn Công, Lý Hải... đều nhận trọng trách ở những địa bàn trọng yếu ngoài Hà Nội, chỉ có Hoàng Siêu Hải là ở lại nội thành Hà Nội với vệ quốc quân. Đồng chí Hoàng Siêu Hải (1917-1975).Trải qua những ngày chiến đấu ác liệt, Hoàng Siêu Hải mới nhận thấy những tháng ngày rèn quân, chỉnh cán để chờ thời cơ ra quân thật là tầm nhìn xa, trông rộng của Bác Hồ và Đại tướng Giáp. Với một lực lượng nhỏ và trang bị vũ khí kém hơn nhiều so với quân Pháp, bộ đội vệ quốc quân thành Hà Nội đã liên tiếp lập chiến công: Bảo vệ vững chắc Bắc Bộ phủ ngày 20 tháng 12; đánh thắng nhiều trận tại khu vực Bộ Quốc phòng và trại Vệ Quốc đoàn Trung ương (Hàng Bài); tập kích quân Pháp trên Yên Phụ; tập kích vào nhà Tiền đêm 23 tháng 12 giành thắng lợi lớn... Áp dụng những kiến thức quân sự được học tại trường Quân sự Liễu Châu, Trung đoàn trưởng Hoàng Siêu Hải đã đưa ra chiến thuật: Cách đánh liên hoàn. Xây dựng các chiến lũy trên các đường phố tạo nhiều chướng ngại vật ngăn cản xe tăng, đục thông tường các ngôi nhà để bộ binh di chuyển... Với cách đánh này, quân đội ta kéo dài thời gian chiến đấu lên 1 hoặc 2 tháng, giảm thương vong và phá tan kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô trong một thời gian nhất định, theo lệnh của Trung ương Đảng, nửa đêm 17/02/1947, Hoàng Siêu Hải và hơn 1.200 người gồm cán bộ, chiến sĩ, phụ nữ, trẻ em, thương binh bí mật luồn qua gầm cầu Long Biên rồi vượt sông trên những chiếc thuyền nan trở về tập kết an toàn bên bờ hữu ngạn sông Hồng.[2]Chính ủy - Lê Trung ToảnĐồng chí Lê Trung Toản, tên thật là Nguyễn Ngọc Đĩnh, sinh năm 1921 ở xã Đoan Hạ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Lên 9 tuổi, ông đã được gia đình cho ra Hà Nội học ở trường tư thục Thăng Long. Năm 1939, Nguyễn Ngọc Đĩnh được kết nạp Đảng cộng sản Đông Dương. Trong dịp kỷ niệm thành lập Đảng tháng 01/1941, ông bị địch bắt rồi bị đày lên nhà tù Sơn La. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, bọn cai ngục buộc phải đồng ý thả một số đồng chí, nên ông được ra tù đợt này.Từ Hiền Lương (Phú Thọ), ông Nguyễn Ngọc Đĩnh về An toàn khu của Xứ uỷ ở Tây Mỗ (Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội), một thời gian sau ông được phân công trở lại Sơn La để chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa trên địa bàn tỉnh. Đêm 19/8/1945, ông được Xứ uỷ điều động về công tác tại Thành uỷ Hà Nội. Để tiện cho hoạt động công khai, cán bộ phải có tên mới, ông lấy tên mới Lê Trung Toản. Ngày 25/8/1945, ông Trần Quốc Hoàn thay mặt Xứ ủy chủ trì phiên họp đầu tiên của Thành ủy, chỉ định ông Trần Quang Huy làm Bí thư, ông Lê Trung Toản là Thành ủy viên, phụ trách công tác quân sự địa phương và lực lượng Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, Tự vệ Thành ở các khu phố, Dân quân tự vệ ngoại thành.Ông Lê Trung Toản (1921-2017).Đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu là lực lượng vũ trang nòng cốt của thành phố Hà Nội đặt dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ, bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, Xứ ủy, Thành ủy, chiến đấu chống thù trong, giặc ngoài, phối hợp chặt chẽ với Công an xung phong làm lực lượng xung kích tiêu diệt Việt gian, phản động. Ngoài ra, Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu và Vệ quốc đoàn còn huấn luyện quân sự cho Tự vệ Thành và hội viên các đoàn thể cứu quốc. Ông vừa phụ trách Đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, vừa là Bí thư Chi bộ của Đội (Tháng 9/1945, Chi bộ chỉ có 3 người: Lê Trung Toản, Nguyễn Anh Bảo, Hồng Thao).Ngày 12/7/1946, lực lượng Công an và Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu đã phối hợp chặt chẽ tấn công vây bắt bọn phản động ở các địa điểm: số 7 Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), 80 Quán Thánh, đường Đỗ Hữu Vị; âm mưu làm cuộc đảo chính, lật đổ chính quyền cách mạng nhân dịp quốc khánh Pháp (ngày 14/7). Sau khi phối hợp cùng Công an vây bắt bọn phản động, Tự vệ chiến đấu ở lại chốt giữ vị trí. Sau đó, ông Lê Trung Toản được điều động xuống Hải Phòng làm Bí thư Thành uỷ.Cuối tháng 11/1946, chuẩn bị kháng chiến, các cơ quan Đảng, Ủy ban bảo vệ của ba Liên khu nội thành và 5 khu ngoại thành được kiện toàn. Đối với Liên khu I, Khu ủy khu XI chỉ định: ông Nguyễn Hữu Mai, Khu ủy viên Khu XI, làm Bí thư; ông Lê Trung Toản, Khu ủy viên Khu XI, làm Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ Liên khu I kiêm Phó Bí thư; ông Hoàng Phương là ủy viên Liên khu I [3].Ban Tác chiến của Liên khu I cũng được thành lập để giúp Ủy ban bảo vệ Liên khu, gồm các đồng chí: Hoàng Siêu Hải, cán bộ của Ban chỉ huy Khu XI biệt phái về Liên khu I làm Trưởng ban; Hoàng Phương, Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên tự vệ Hà Nội, Ủy viên; Nguyễn Văn Triệu, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 101 Vệ quốc đoàn, Ủy viên; Vũ Yên, Ủy viên. Ngoài Ủy ban bảo vệ còn có các ban khác: Ban Tuyên truyền do ông Hồ Lịch làm Trưởng ban; Ban Tình báo do bà Lê Song Toàn làm Trưởng ban; Ban Quân pháp do ông Trần Xuân Trường làm Trưởng ban; Ban Quản lý do ông Bùi Nguyên Cát làm Trưởng ban; Ban Cứu thương do ông Phạm Văn Trừng làm Trưởng ban; Văn phòng do ông Hoàng Phú làm thư ký, có đội liên lạc do ông Nguyễn Quỳ làm đội trưởng và một tổ điện đài do ông Nguyễn Khắc Hữu là tổ trưởng [4].Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinhLiên khu I là địa bàn tập trung các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, có địa hình địa vật thuận lợi để tổ chức trận địa phòng ngự chiến đấu dài ngày. Do đó, trong kế hoạch tác chiến, Ban chỉ huy mặt trận khu XI chủ trương xây dựng Liên khu I thành một chốt thép kiên cường để thu hút, kiềm chế, giam chân địch trong lòng thành phố, đồng thời phối hợp với Liên khu II và III đánh địch trên toàn mặt trận, tạo điều kiện cho Trung ương rút lên Việt Bắc an toàn.Cụ thể như sau: “Liên khu I, khi nổ súng, vẫn giữ như khu hành chính cũ: phía Nam và Tây Nam theo đường Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi và đường Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ); phía Tây Bắc từ đường Cổ Ngư tới Yên Phụ; phía Bắc và Đông Bắc là dọc sông Hồng từ Yên Phụ đến Nhà hát lớn. Sau ba ngày chiến đấu tiêu hao địch, Liên khu I thu hẹp lại: Giới tuyến phía Nam dọc đường Hàng Thùng, Cầu Gỗ, Hàng Gai, Hàng Bông; phía Tây theo đại lộ Phùng Hưng; phía Bắc và Đông Bắc theo đường xe lửa tới cầu Long Biên, ven theo sông Hồng trở về Lò Sũ…”Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thủ đô Hà Nội ngày ấy “mỗi ngôi nhà là một pháo đài, mỗi đường phố là một chiến tuyến, mỗi người dân là một chiến sỹ”. Nhân dân Thủ đô không quản hy sinh, gian khổ ngày đêm lập những chiến lũy trên đường phố Hà Nội để ngăn cản bước tiến quân thù.Chiến sỹ cảm tử Thủ đô dùng bom ba càng đánh xe tăng địch ở phố Cửa Nam, tháng 12/1946.Trước sức tấn công của địch, ta thu hẹp phạm vi đóng quân để việc chiến đấu được dễ dàng và cơ động hơn. Ban ngày, ta bố trí lực lượng phòng ngự, ban đêm các chiến sĩ lọt vào những khu địch tạm chiếm đóng để quấy rối, tiêu hao sinh lực chúng.Đêm giao thừa, một tổ cảm tử của ta bơi ra cắm cờ lên tháp Rùa - Hồ Gươm, trong khi đó khắp nơi quân ta đồng loạt tập kích các vị trí. Sau Tết Đinh Hợi năm 1947, quân Pháp mở những đợt tấn công quy mô đánh chiếm Liên khu I. Từ ngày 06/02/1947, chúng huy động bộ binh, xe tăng đánh chiếm nhà Sô-va nhưng không thành công. Ngày 07/02, chúng mở cuộc tấn công lớn vào Trường Ke, Hàng Thiếc, Hàng Nón, Hàng Bồ...; ném bom ác liệt các phố Hàng Bạc, Hàng Mắm, Mã Mây,... nhưng lực lượng ta vẫn giữ vững trận địa.Từ ngày 10 đến ngày 13/02/1947, Pháp cho máy bay ném bom và nã pháo dữ dội vào các phố Hàng Cót, Hàng Lược, Hàng Giấy... Đặc biệt, sáng ngày 14/02, quân Pháp mở một cuộc tấn công quy mô nhất vào khu Đồng Xuân. Song, nơi đây ta bố trí phòng tuyến kiên cố, tổ chức lực lượng chống trả quyết liệt nên xe tăng Pháp bị chặn từ xa, lính địch bị tiêu diệt và thương vong nhiều. Các tiểu đội của ta xông pha đánh giáp lá cà, quần nhau với giặc trong từng quầy hàng và trên mái nhà. Để chiếm một ngôi nhà, ngõ phố của Liên khu I, quân giặc phải chịu tổn thất nhiều.Địch dự định chiếm Thủ đô trong 24 tiếng, nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại. Quân dân Hà Nội trong 60 ngày đêm với tinh thần “Thà chết không chịu làm nô lệ”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Trung ương Đảng giao cho. Đến ngày 17/02/1947, Trung đoàn Thủ đô đã rút lui khỏi thành phố, ra hậu phương để bảo toàn lực lượng cho cuộc chiến đấu lâu dài. Trong 60 ngày đêm chiến đấu, quân dân Thủ đô đã tiêu diệt gần 2.000 tên địch, phá hủy trên 100 xe quân sự, bắn rơi và phá hủy 05 máy bay, bắn chìm 02 ca nô, đánh bại chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh” hòng đánh chiếm thành phố Hà Nội trong vòng 24 giờ của thực dân Pháp.Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Khu uỷ và Ban Chỉ huy Mặt trận khu XI, Ban Chỉ huy Trung đoàn đã tổ chức, chiến đấu giam chân địch và tiêu hao không chỉ một tháng như kế hoạch dự định mà là hai tháng. Thắng lợi của quân dân Thủ đô là thắng lợi của truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Chiến đấu giam chân địch và tiêu hao lực lượng của chúng trong thành phố, quân dân Thủ đô đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân cả nước vững tin đi vào cuộc kháng chiến lâu dài. Đây là một bước mở đầu oanh liệt của cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp, góp phần làm rạng rỡ truyền thống Thăng Long - Hà Nội./.[1] Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam[2] Theo báo Biên phòng Điện tử, thứ hai, ngày 10/08/2015[3] Lê Trung Toản: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, NXBHN, H 2000, tr 110[4] Lê Trung Toản: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, NXBHN, H 2000, tr 111

Nguồn: Lâm Văn Phú - BTLSQSVN

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn