CHÍ SĨ CÁCH MẠNG LÝ LIỄU
Lý Liễu (tên khác Lý Phùng Xuân)
Cuối năm 1906 cha ông Lý Trung Chánh hiệp cùng với Nguyễn Thần Hiến cổ động học sinh du học theo phong trào Đông Du. Năm 1907 vào năm 14 tuổi Lý Liễu được cha mình cho xuất dương du học tại Hồng Kông, cùng với Nguyễn Truyện con cụ Nguyễn Ngươn Hanh.
Cuối tháng 5-1913, một phái đoàn từ Nam kỳ do Nguyễn Quang Diêu dẫn đầu sang Hồng Công mua vũ khí và đưa thêm du học sinh qua. Đoàn ở nhà ông Huỳnh Hưng.
Ngày 16-6-1913, nhà ông Huỳnh Hưng bị cảnh sát Anh khám xét. Họ bắt gặp 13 quả tạc đạn, một số tài liệu và bắt hết những người có mặt. Khi ra tòa, chỉ một mình Huỳnh Hưng nhận tội và bị án tù, còn những người còn lại bị giao về Hà Nội cho Pháp xử lý.
Năm 1913, tòa Đại hình Pháp kêu án: Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Thần Hiến, Đinh Hữu Thuật 10 năm khổ sai; Nguyễn Truyện chung thân; Lý Liễu 5 năm khổ sai. Tất cả giam ở nhà lao Hỏa Lò chờ ngày đi đày. Lúc ấy Nguyễn Truyện giả bệnh nằm nhà thương rồi lấy dao mổ bụng tự tử. Nguyễn Thần Hiến nhịn ăn mà chết. Huỳnh Hưng cũng bị chính quyền Hồng Công giao cho người Pháp đày ra Côn Đảo. Còn Nguyễn Quang Diêu, Lý Liễu, Đinh Hữu Thuật và Trần Ngọ đều bị đày sang đảo Guyane (Nam Mỹ), là thuộc địa của Anh, Pháp và Hà Lan.
Đến Guyane, thực dân đưa tù nhân lên rừng đốn củi. Lý Liễu trẻ tuổi nhất, thông thạo tiếng Anh, tiếng Hoa và một ít tiếng Pháp, nên cai ngục xếp ông làm liên lạc từ thị trấn đến chỗ lao động khổ sai trên rừng. Vì thế ông có điều kiện giao du với với kiều dân Trung Hoa, Nhật Bản, giúp những nhà cách mạng trong tù tìm hiểu thông tin trong nước.
Trong lúc đó, chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) nổ ra. Các nhà cách mạng bàn cách vượt ngục. Lý Liễu nhờ một số kiều dân bên ngoài hỗ trợ. Công tác chuẩn bị từ giữa năm 1916 đến đầu năm 1917 mới xong. Ông Nguyễn Quang Diêu và Đinh Hữu Thuật đi trước. Những người vượt ngục lên thuyền đánh cá của thổ dân, sang đảo Trinidad (thuộc địa của Anh) và sống dưới vỏ bọc là người Hoa. Mỗi lần có người vượt ngục, Lý Liễu khéo léo khai với cai ngục. Các đồng chí vượt ngục hết, ông đi cuối cùng.
Tại Trinidad, Lý Liễu có cuộc sống ổn định trong một thương hội của người Hoa, lấy vợ người Anh, có một cửa hiệu. Thế nhưng ông và các đồng chí vẫn tìm đọc báo chí, các tài liệu cách mạng Việt Nam và lập kế hoạch trở về. Giữa năm 1920, các chí sĩ cách mạng gom góp đủ tiền, từ Trinidad đáp tàu đi Washington, từ đó về Hồng Công.
Riêng Lý Liễu, ông chờ lúc vợ dẫn hai con về thăm quê ngoại ở Anh, lặng lẽ đóng cửa hiệu, để lại phong thư và xuống tàu rời Trinidad. Đó là một cuộc đấu tranh giữa cuộc sống ổn định và con đường cứu nước chưa thấy ánh sáng phía trước. Giữa năm 1925, Lý Liễu về Hồng Công, nhờ bạn học cũ chạy giấy tờ hợp pháp định cư ở đây, thường đến Quảng Châu bắt liên lạc với cách mạng. Năm 1929, Lý Liễu tìm được giấy thông hành mang tên thương nhân người Hoa, từ Hồng Công sang Sài Gòn làm ăn.
Ông ghé quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre) để hỏi thăm tin tức quê nhà. 22 năm xa quê, gia đình mới có tin tức về ông. Một người em bí mật dẫn ông về quê. Ở Tam Bình không lâu, Lý Liễu tìm các đồng chí cũ nhưng lúc đó phong trào im ắng.
Năm 1929-1930, các tổ chức An Nam Cộng sản hoạt động mạnh ở Tam Bình, cụ Lý Trung Chánh và các con đều tham gia. Thế nhưng, chính quyền thực dân biết Lý Liễu về thì mời ông cộng tác để xóa đi tội cũ. Ông không nhận lời và lánh đến xã An Phước, quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho hoạt động cách mạng với tên mới Lý Phùng Xuân.
Năm 1933 ông bị Pháp bắt khi đang hoạt động cách mạng, bị kết án 5 năm tù khổ sai và đi đày ở Côn Đảo.Năm 1935, ông Lý Phùng Xuân mãn hạn tù về tiếp tục hoạt động. Khởi nghĩa Nam kỳ 23-11-1940, ông Lý Liễu tổ chức khởi nghĩa, bị Pháp bắt kêu án 20 năm khổ sai và lại đày đi Côn Đảo
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, ông được Tỉnh ủy Mỹ Tho đưa về đất liền và được cử làm Chủ tịch Mặt trận Giao Hòa- An Hóa. Mặt trận này bị quân Pháp tấn công vào ngày 6-1-1946.
Năm 1948, ông Lý Phùng Xuân là cán bộ công tác chính trị cho Trung đoàn 99 của ông Đồng Văn Cống. Sau Hiệp Đinh Genève, 1954, ông Lý Phùng Xuân đã 62 tuổi, được phân công về xã An Phước gây dựng phong trào, là vùng giải phóng nổi tiếng của Bến Tre.
(Hội yêu khí tài quân sự)



