Bài viết

Chí Sĩ Huỳnh Thúc Kháng: Nhà Lệnh Đạo Chuẩn Mực, Nhà Báo Khí Tiết Và Sử Gia Của Tiến Trình Dân Tộc

Lê Văn Quản

Đà Nẵng18/08/2026phường Thủy Nguyên (phường Thủy Nguyên)6 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Thân thế và Giáo dục

Huỳnh Thúc Kháng (sinh ngày 01 tháng 10 năm 1876 – mất ngày 21 tháng 4 năm 1947), tên khai sinh là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Mính Viên (hay Minh Viên), thường được đồng bào kính trọng gọi là Cụ Huỳnh. Cụ sinh ra tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam). Cha của cụ là cụ Huỳnh Văn Phương (hiệu Tấn Hữu), một nhà nho theo nghiệp đèn sách; mẹ cụ là bà Nguyễn Thị Tình, một người phụ nữ mực thước, đảm đang cùng quê.

Từ thuở nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng đã nổi tiếng là người thông minh, học giỏi và sớm đạt giải cao trong các kỳ thi khoa bảng. Năm Canh Tý (1900), cụ đỗ Giải nguyên (đứng đầu kỳ thi Hương) và đến năm Giáp Thìn (1904), cụ đỗ Hoàng Giáp (Tiến sĩ) khi mới 28 tuổi. Dù đạt học vị cao, cụ quyết định không bước vào con đường cử nghiệp ra làm quan để "vinh thân phì gia" như phần đông giới sĩ phu đương thời, mà dấn thân vào con đường cứu nước, cứu dân đầy gian nan.


2. Phong trào Duy Tân và 13 năm đày ải ở Côn Đảo

Năm 1905, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng hai chí sĩ thân thiết là Phan Châu TrinhTrần Quý Cáp đi vào phía Nam để xem xét dân tình, sĩ khí, từ đó cùng nhau đề xướng tân học và tìm kiếm những người cùng chí hướng. Đến năm 1906, cụ trở về Quảng Nam chính thức khởi xướng và lãnh đạo Phong trào Duy Tân.

Bộ ba Quảng Nam lừng danh (Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng) đã đề ra tôn chỉ cốt lõi nhằm canh tân đất nước bao gồm ba mục tiêu:

  • Chấn dân khí: Thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, nâng cao ý thức về quyền lợi dân chủ và dân quyền của người dân.

  • Khai dân trí: Cổ động dùng chữ Quốc ngữ, mở trường dạy các kiến thức khoa học thực dụng và dạy nghề, xóa bỏ lối học khoa bảng, từ chương lạc hậu.

  • Hậu dân sinh: Phát triển kinh tế, tổ chức khai hoang lập vườn, thành lập các hội buôn và hội sản xuất hàng nội hóa để nâng cao đời sống nhân dân, thoát khỏi đói nghèo.

  • Phong trào Duy Tân đang phát triển mạnh mẽ thì vào năm 1908, cuộc phong trào chống thuế Trung Kỳ nổ ra dữ dội. Thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp; cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt và bị kết án đày ra Côn Đảo suốt 13 năm (1908 – 1921). Tại "địa ngục trần gian" này, cụ cùng các đồng chí vẫn giữ vững lòng son dạ sắt, coi nhà tù như một "trường học thiên nhiên" để rèn luyện bản thân. Cụ tự học tiếng Pháp bằng cách học thuộc lòng cả cuốn từ điển Larousse. Cũng chính tại đây, cụ đã ghi chép lại các tác phẩm thơ ca của bạn tù, sau này tập hợp thành tập Thi tù tùng thoại xuất bản năm 1939.


    3. Hoạt động Nghị trường và Sự nghiệp làm báo Tiếng Dân

    Sau khi được trả tự do vào năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng lập tức tiếp tục hoạt động với tư cách là "một nhà cách mạng công khai". Năm 1926, cụ đắc cử dân biểu và được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trên cương vị này, cụ kiên quyết đấu tranh nghị trường chống lại sự áp bức, bất công của thực dân. Tuy nhiên, nhận thấy công cụ này bị chính quyền thực dân ràng buộc và sau khi phản đối quyết liệt Khâm sứ Pháp Jabouille bất thành, cụ đã từ chức.

    Cụ Huỳnh chuyển hướng sang hoạt động báo chí để tiếp tục thức tỉnh đồng bào. Tháng 8 năm 1927, cụ sáng lập nhà in và tờ báo Tiếng Dân tại Huế, đảm nhiệm vai trò chủ nhiệm kiêm chủ bút. Ngay từ số đầu tiên, cụ đã viết lời tuyên ngôn dõng dạc thể hiện khí tiết lẫm liệt của người làm báo:

    "Nếu không có quyền nói tất cả những điều mình muốn nói, thì ít ra cũng giữ cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói".

    Tờ báo Tiếng Dân dưới sự chèo lái khôn khéo của cụ Huỳnh đã trở thành tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên tại Trung Kỳ và là diễn đàn đấu tranh bền bỉ nhất trong thời thuộc địa tại Đông Dương, tồn tại suốt 16 năm với 1.766 số báo cho đến khi bị chính quyền thực dân đình bản vào năm 1943. Bên cạnh việc đưa tin thời sự, tờ báo còn tích cực bảo lưu các giá trị văn hóa lịch sử dân tộc, đăng tải các câu chuyện về anh hùng lịch sử như Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, Nguyễn Lộ Trạch... nhằm nung nấu tinh thần yêu nước trong lòng nhân dân.


    4. Phụng sự Tổ quốc trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến

    Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trân trọng tài năng và đức độ sáng ngời của cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân trọng mời cụ tham gia Chính phủ. Cụ nhận lời và giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ từ ngày 2 tháng 3 năm 1946.

    Từ ngày 31 tháng 5 đến ngày 20 tháng 10 năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp tham gia Hội nghị Fontainebleau, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao trọng trách giữ chức Quyền Chủ tịch nước (kiêm Quyền Thủ tướng Chính phủ). Với tư cách Quyền Chủ tịch nước, cụ đã điều hành xuất sắc bộ máy nhà nước non trẻ vượt qua muôn vàn thử thách hiểm nghèo với phương châm hành động nổi tiếng: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cụ hoàn toàn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và từng nhắn nhủ với đồng bào rằng Hồ Chủ tịch là một người vĩ đại, một tay cao cờ sẽ đưa dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn.

    Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (tháng 12/1946), cụ Huỳnh tiếp tục nhận nhiệm vụ làm Đặc phái viên của Chính phủ đi kinh lý miền Trung để giải thích đường lối kháng chiến và kêu gọi toàn dân đoàn kết ủng hộ cách mạng.


    5. Những năm cuối đời và Sự ra đi thanh thản

    Tháng 4 năm 1947, trong chuyến đi công tác kinh lý miền Trung, do tuổi cao sức yếu và lâm bệnh nặng, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã từ trần tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 21 tháng 4 năm 1947, hưởng thọ 71 tuổi.

    Trước lúc lâm chung, cụ đã đọc cho thư ký riêng viết bức thư cuối cùng gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện một tinh thần vô cùng lạc quan và thanh thản:

    "Kính gửi Hồ Chủ tịch. Tôi bệnh nặng, chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang hạnh phúc. Chào vĩnh quyết.".

    Theo đúng nguyện vọng của cụ, nhân dân đã an táng cụ trên đỉnh núi Thiên Ấn – đệ nhất thắng cảnh của tỉnh Quảng Ngãi. Để tưởng nhớ người đồng chí kính mến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bức thư xúc động gửi đồng bào cả nước ca ngợi phẩm chất vĩ đại của cụ:

    “Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao... Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập...”.

    Vào năm 2012, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng – phần thưởng cao quý nhất để ghi nhận những đóng góp to lớn của cụ đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.


    Các nguồn truy xuất (Tài liệu tham khảo):

    1. Tiểu sử Cụ Huỳnh Thúc Kháng (Trang thông tin Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng - Vinh, Nghệ An).

  • Hồ Chủ tịch và Cụ Huỳnh Thúc Kháng (Trang thông tin Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng - Vinh, Nghệ An).

  • Huỳnh Thúc Kháng - Wikipedia (Bản điện tử).

  • huỳnh thúc kháng người chép sử của phong trào duy tân - Nguyễn Tất Thắng, Trường Đại học Sư phạm Huế - Đại học Huế (Tạp chí Khoa học – Đại học Huế).

  • MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ BÁO CHÍ: TRƯỜNG HỢP BÁO TIẾNG DÂN - Ngô Thị Thanh Tâm, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh (Tạp chí Khoa học - hcmue).

  • Huỳnh Thúc Kháng - Khí tiết của người làm báo - Nguyên Ngọc (Báo Tuổi Trẻ Online).

  • Phong trào Duy Tân ở Quảng Nam (1905 - 1908) (Cổng thông tin điện tử UBND thành phố Đà Nẵng).

  • HUỲNH THÚC KHÁNG VỚI SỬ HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX - Trương Huỳnh Kỳ, Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế.

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn