Bài viết

CHÍ SĨ MAI LÃO BẠNG – BẬC TIỀN BỐI KÍNH CHÚA YÊU NƯỚC VÀ KHÚC CA NGHĨA THỰC XÓA BỎ HẬN THÙ LƯƠNG - GIÁO

Hà Tĩnh14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

CHÍ SĨ MAI LÃO BẠNG – BẬC TIỀN BỐI KÍNH CHÚA YÊU NƯỚC VÀ KHÚC CA NGHĨA THỰC XÓA BỎ HẬN THÙ LƯƠNG - GIÁO

Chí sĩ Mai Lão Bạng sinh năm 1866 tại họ đạo Dụ Thành, giáo xứ Dụ Thành, bấy giờ thuộc làng Quảng Ích, tổng Đậu Chử (nay là thôn Hoàng Dụ, xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh). Thân phụ ông là một nhà nho kiêm thầy thuốc giàu lòng nhân ái. Khi đã quá tuổi trung niên mới sinh được con trai, ông cụ đã mượn điển tích phương Đông "Lão bạng sinh châu" (Trai già nhả ngọc) để đặt tên con là Châu và tự là Lão Bạng.

Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán, sau đó được gửi vào học tại Đại chủng viện Xã Đoài (Nghệ An). Dù đã tu học đến chức Thầy Già (nên thường gọi là Già Châu), nhận thấy sự quản lý ngặt nghèo của các cố đạo người Pháp kìm hãm khát vọng phụng sự xã hội, ông cùng người đạo hữu Lê Khánh đã quyết định rời trường Dòng để dấn thân hành đạo cứu đời.

Bước ngoặt vĩ đại trong sự nghiệp của ông diễn ra vào giai đoạn 1904 - 1905, khi ông cùng các linh mục yêu nước như Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thần Đồng, Đậu Quang Lĩnh thành lập tổ chức "Duy Tân giáo đồ hội", hoạt động dưới sự lãnh đạo của Hội Duy Tân do Phan Bội Châu khởi xướng. Sự ra đời của hội mang một ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn: sửa chữa sai lầm của khẩu hiệu "Bình Tây sát Tả" thời kỳ Cần Vương trước đó. Bằng uy tín của mình, cụ Mai Lão Bạng và các linh mục đã xóa bỏ hoàn toàn hận thù Lương - Giáo, quy tụ hàng vạn giáo dân yêu nước đứng vào hàng ngũ đại đoàn kết dân tộc chống Pháp.

Năm 1908, ông được hội cử xuất dương sang Nhật Bản bạt thiệp cùng Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại hầu Cường Để, trở thành thế kiềng ba chân vững chắc của phong trào hải ngoại.

Con đường bôn ba của cụ Mai Lão Bạng là một chuỗi hành trình đầy gian lao qua nhiều quốc gia. Sau khi Pháp - Nhật câu kết trục xuất du học sinh Việt Nam cuối năm 1908, ông sang Xiêm La nhưng bị bắt giam 4 tháng rồi trục xuất. Chạy sang Hương Cảng tìm cách kết nối lực lượng, ông lại bị chính quyền Anh giam giữ 3 tháng và trục xuất vào năm 1909.

Giữa lúc gia đình ở quê nhà bị liên lụy, em trai bị truy nã, ông vẫn kiên cường bám trụ. Đầu năm 1910, ông gặp lại Phan Bội Châu tại Quảng Đông và sang Xiêm xây dựng trại cày Bản Thẩm làm căn cứ kinh tài lâu dài. Đến năm 1912, khi Việt Nam Quang phục Hội ra đời thay thế Hội Duy Tân, cụ Mai Lão Bạng được tin tưởng bầu làm Ủy viên Bộ Kinh tế, rồi Phó Tổng trưởng Bộ Tài chính, lập ra hiệu thuốc Đông Bằng Y xã để ngầm làm trụ sở cách mạng.

Sau những vụ bạo động đặt bom năm 1913, thực dân Pháp áp lực với Đốc quân Long Tế Quang tại Quảng Đông bắt giam Phan Bội Châu và Mai Lão Bạng. Trải qua 4 năm ngục tù tối tăm ở Trung Quốc, đến tháng 3 năm 1917 khi cục diện chính trị thay đổi, ông mới được trả tự do. Vừa đặt chân lên Thượng Hải, bi kịch ập đến khi ông cùng các đồng chí bị kẻ phản bội Phan Bá Ngọc chỉ điểm cho mật thám Pháp bắt giải về nước. Thực dân Pháp khép án, đày ông ra "địa ngục trần gian" Côn Đảo.

Khí tiết của người chiến sĩ Công giáo yêu nước một lần nữa tỏa sáng suốt 15 năm ròng rã chịu đựng xiềng xích, cho đến khi được trả tự do vào năm 1933.

Trở về đất Vinh (Nghệ An) khi phong trào đã tan rã, cụ mở hiệu thuốc "Lão Bạng y quán" để bốc thuốc cứu người, giữ vẹn khí tiết. Hàng năm, ông vẫn chung thủy lặn lội vào Huế thăm người tri kỷ Phan Bội Châu đang bị an trí tại Bến Ngự. Năm 1939, trong cuộc gặp gỡ cuối cùng, "Ông già Bến Ngự" đã trân trọng tặng ông bức ảnh chân dung với lời đề đầy tự răn và cảm động: "Cứu quốc tồn chủng, hữu chí vô tài..." như một lời tâm sự gan ruột giữa hai bậc vĩ nhân. Tháng 10 năm 1942, chí sĩ Mai Lão Bạng trút hơi thở cuối cùng tại Vinh, được an táng tại nghĩa địa giáo xứ Cầu Rầm.

Chí sĩ Mai Lão Bạng là một nhân cách lớn, một biểu tượng ngời sáng cho tinh thần "Kính Chúa – Yêu Nước" của đồng bào Công giáo Việt Nam. Cuộc đời 76 năm của ông là một tấm gương vĩ đại về lòng kiên trung và tầm nhìn chiến lược trong việc tháo gỡ ngòi nổ xung đột tôn giáo để quy tụ sức mạnh toàn dân. Dù bôn ba khắp bốn phương trời, nếm trải đủ nhà tù từ Xiêm La, Hương Cảng, Quảng Châu cho đến Côn Đảo, ông vẫn giữ trọn lòng son sắt với Tổ quốc. Di sản hòa hợp dân tộc mà ông để lại mãi mãi là niềm tự hào lớn lao cho hậu thế, và tên ông hiện nay đã được trang trọng đặt cho nhiều tuyến đường huyết mạch tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn