CHÍ SĨ TRƯƠNG GIA MÔ (1866-1929)
CHÍ SĨ TRƯƠNG GIA MÔ (1866-1929)
Trương Gia Mô sinh năm 1866, hiệu Cúc Nông, tên tự ban đầu là Sư Thánh, sau đổi thành Sư Quản, biệt hiệu Hoài Huyền Tử.
Ông nguyên quán ở Gia Định nhưng sinh tại chợ Hương Điểm, làng Tân Hào, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Cha ông là Trương Gia Hội, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới triều vua Tự Đức như Tri phủ Hoằng Trị, Lang trung Bộ Binh, sau làm Tuần vũ Thuận Khánh (Bình Thuận và Khánh Hòa).
Năm 1867, khi thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, gia đình ông theo cha tỵ địa vào Bình Thuận. Đến năm 1877, cha mất, ông sống cùng mẹ. Năm 1892, dưới triều vua Thành Thái, nhờ chế độ tập ấm, ông được bổ làm Thừa phái Bộ Công tại Huế. Do xuất thân quan lại và học vấn uyên thâm, nhiều người lầm tưởng ông đỗ Tiến sĩ nên thường gọi là Nghè Mô.
Ngay từ khi ngoài hai mươi tuổi, Trương Gia Mô đã sớm bộc lộ tư tưởng canh tân đất nước. Ông dâng lên vua một bản điều trần đề nghị cải cách và xin được tham gia phái đoàn sang Pháp học tập, nhưng cả hai kiến nghị đều không được triều đình chấp thuận.
Bản điều trần của ông gồm 5 nội dung cải cách lớn:
1. Mở rộng trường dạy tiếng Pháp ở các tỉnh; dịch sách Pháp và Trung Quốc sang chữ Quốc ngữ nhằm nâng cao dân trí.
2. Chấn hưng công thương nghiệp, mở rộng khai hoang, chăm lo y tế và đời sống cho nhân dân nghèo.
3. Loại bỏ quan lại tham nhũng, sàng lọc những viên chức yếu kém trong bộ máy nhà nước.
4. Thành lập nghị viện, mở báo chí để mở rộng quyền tự do ngôn luận và dư luận xã hội.
5. Chỉnh đốn phong tục, đẩy mạnh giáo hóa, ngăn chặn sự suy đồi đạo đức trong xã hội.
Không được triều đình chấp nhận, ông từ quan trở về Nam Kỳ, kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như Trần Chánh Chiếu, Nguyễn An Cư, Nguyễn An Khương... để cùng nhau vận động cải cách, duy tân đất nước.
Sau một thời gian, ông trở lại Bình Thuận và cùng Nguyễn Lộ Trạch bàn kế hoạch xuất dương tìm đường cứu nước nhưng không thành. Sau khi Nguyễn Lộ Trạch qua đời, ông về dạy học tại Tân An (Long An), rồi tiếp tục đi nhiều nơi trước khi quay lại Bình Thuận, sinh sống tại làng Hà Thủy-Duồng (nay thuộc xã Chí Công, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận).
Năm 1905, khi Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp thực hiện chuyến Nam du, đến Bình Thuận đã gặp và kết giao với Trương Gia Mô. Từ đây, các sĩ phu cùng nhau thành lập Công ty Liên Thành và Trường Dục Thanh, tích cực truyền bá tư tưởng duy tân, cải cách và nâng cao dân trí cho nhân dân.
Năm 1908, phong trào chống sưu thuế bùng nổ khắp Trung Kỳ. Sau khi phong trào bị đàn áp, nhiều sĩ phu yêu nước bị bắt, lưu đày hoặc xử tử. Trương Gia Mô cũng bị bắt giam tại ngục Khánh Hòa với cáo buộc tham gia "đảng kín". Sau một thời gian bị giam giữ, ông được trả tự do và trở về Bình Thuận khi đã ngoài bốn mươi tuổi.
Năm 1910, một thanh niên tên Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) mang thư giới thiệu của thân phụ là Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đến gặp Trương Gia Mô tại làng Hà Thủy, tổng Đa Phước, tỉnh Bình Thuận.
Nhận thấy Nguyễn Tất Thành là người có chí lớn, Trương Gia Mô đã viết thư giới thiệu Nguyễn Tất Thành với Hồ Tá Bang, một trong những sáng lập viên của Liên Thành Thương Quán và Trường Dục Thanh. Nhờ sự giới thiệu ấy, Nguyễn Tất Thành được mời về dạy học tại Trường Dục Thanh ở Phan Thiết.
Đến tháng 3 năm 1911, Hồ Tá Bang cùng Trần Lê Chất đưa Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn để chuẩn bị hành trình sang Pháp, mở đầu con đường tìm đường cứu nước sau này.
Những năm tiếp theo, Trương Gia Mô trở lại Nam Kỳ, đi khắp miền Tây để liên hệ với các chí sĩ và bạn bè cũ như Nguyễn Sinh Sắc, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn An Cư, Nguyễn An Khương, Đông Hồ..., tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và vận động canh tân dân tộc.
Về cuối đời, tuổi cao sức yếu, bệnh tật liên miên, lại luôn bị mật thám Pháp theo dõi, cuộc đời bất đắc chí khiến ông sống trong tâm trạng đau đáu vì vận nước. Để giãi bày nỗi lòng, ông từng viết:
«Sầu đong càng gạt lại càng đầy,
Cũng muốn khuây mà khó nỗi khuây!»
Cuối cùng, vào đêm mùng 2 tháng 11 âm lịch năm Kỷ Tỵ (1929), Trương Gia Mô đã gieo mình từ Pháo đài trên đỉnh núi Sam (Châu Đốc) xuống vực sâu, khép lại cuộc đời của một chí sĩ luôn đau đáu vì vận mệnh dân tộc.
Ngày nay, để ghi nhớ những đóng góp của ông, tại Châu Đốc có một ngôi trường mang tên Trương Gia Mô, đồng thời trên đỉnh núi Sam cũng có một ngôi miếu thờ nhằm tưởng niệm người chí sĩ yêu nước đã dành trọn cuộc đời cho lý tưởng canh tân và độc lập dân tộc.


