Khác

CHIẾC BA LÔ CŨ VÀ LÁ THƯ CHƯA GỬI

Ông nội tôi có một chiếc ba lô cũ. Nó đã bạc màu, sờn cả quai và có một miếng vải được khâu lại ở phía đáy. Từ ngày tôi còn bé, mỗi lần về quê, tôi đều thấy chiếc ba lô ấy nằm trên nóc tủ, bên cạnh chiếc đài cũ và mấy cuốn sổ đã ngả màu.

Tuyên Quang05/08/2026Xã Thanh Thủy (Đoàn xã Thanh Thủy)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông nội tôi có một chiếc ba lô cũ. Nó đã bạc màu, sờn cả quai và có một miếng vải được khâu lại ở phía đáy. Từ ngày tôi còn bé, mỗi lần về quê, tôi đều thấy chiếc ba lô ấy nằm trên nóc tủ, bên cạnh chiếc đài cũ và mấy cuốn sổ đã ngả màu.

Ngày ấy, tôi từng hỏi:

- Ông ơi, cái ba lô này ông mua bao nhiêu tiền?

Ông cười, xua tay:

- Tiền nong gì cái này. Nó theo ông từ hồi còn trẻ.

Tôi không biết “hồi còn trẻ” của ông là khi nào. Chỉ đến năm tôi học lớp 9, trong một buổi tối mất điện, ông mới kể cho tôi nghe câu chuyện về những năm tháng ông đi bộ đội.

Ông nhập ngũ khi vừa tròn hai mươi tuổi. Quê ông khi ấy còn nghèo lắm. Nhà có mấy sào ruộng, mùa được mùa mất. Ngày nhận giấy gọi nhập ngũ, mẹ ông chỉ lặng lẽ ra sau nhà, lấy trong chiếc hòm gỗ một bộ quần áo còn mới nhất đưa cho con.

Mẹ không khóc trước mặt ông.

Bà chỉ dặn:

- Đi thì cố gắng giữ gìn sức khỏe. Đừng làm điều gì để người ta phải gọi tên mình về vì chuyện không hay. Ông bảo, câu nói ấy theo ông suốt những năm tháng trong quân ngũ.

Ngày lên đường, ông mang theo vài bộ quần áo, một ít lương khô mẹ chuẩn bị và chiếc ba lô quân đội. Đường làng hôm ấy đông người tiễn thanh niên lên đường. Có người mẹ đứng nép bên hàng rào, có người cha chỉ vỗ vai con một cái rồi quay mặt đi.

Ông kể rằng lúc xe bắt đầu chạy, ông không dám nhìn về phía sau.

Ông sợ nhìn thấy mẹ.

Sợ nhìn thấy rồi sẽ khóc.

Những ngày đầu trong quân ngũ, điều khó khăn nhất với ông không phải là những buổi tập vất vả mà là nhớ nhà. Một người từ quê đi ra, đang quen với tiếng gà gáy, tiếng trâu ngoài đồng, tối đến nghe tiếng mẹ gọi ăn cơm, bỗng nhiên sống giữa rất nhiều người xa lạ.

Đêm đầu tiên nằm trong lán, ông không ngủ được.

Một anh lính nằm bên cạnh hỏi:

- Nhớ nhà à?

Ông không nói gì.

Anh ấy cười:

- Ai mới vào chẳng nhớ. Rồi quen thôi.

Quả thật, rồi ông quen dần. Những người xa lạ trở thành đồng đội. Họ cùng tập luyện, cùng hành quân, cùng chia nhau từng phần cơm, ngụm nước. Có hôm mệt đến mức vừa đặt ba lô xuống đã muốn nằm vật ra ngủ.

Ông bảo những năm tháng ấy, ông học được một điều mà sau này đi hết cuộc đời vẫn không quên:

Khi ở trong một tập thể, mình không thể chỉ nghĩ cho riêng mình.

Có lần hành quân đường dài, một đồng đội bị đau chân. Mọi người đều mệt, nhưng chẳng ai bỏ mặc người ấy. Người thì đỡ vai, người cầm giúp ba lô. Có lúc ông cũng mệt rã rời, nhưng nhìn người bên cạnh còn vất vả hơn mình, ông lại cố bước tiếp.

Ông nói:

- Hồi ấy chúng ông chẳng ai nghĩ mình là anh hùng đâu. Chỉ nghĩ đơn giản là đồng đội mình đang khó khăn thì phải giúp.

Tôi hỏi:

- Ông có sợ không?

Ông im lặng rất lâu.

Rồi ông nói:

- Có chứ. Bộ đội cũng là người mà. Biết sợ, biết nhớ nhà, biết thương mẹ, thương vợ con sau này. Nhưng sợ vẫn phải làm việc mình cần làm.

Tôi nhớ mãi câu nói ấy.

Trong những năm tháng xa nhà, ông viết rất nhiều thư. Nhưng thư ngày ấy không giống bây giờ. Không có điện thoại để gọi bất cứ lúc nào, càng không có tin nhắn.

Có lần ông viết cho mẹ một lá thư dài gần hai trang giấy.

Ông kể mình vẫn khỏe, vẫn ăn uống bình thường, công việc ổn. Ông còn viết rằng mẹ đừng lo.

Nhưng ở cuối lá thư, ông đã viết một câu rồi lại gạch đi.

Ông viết: “Con nhớ mẹ nhiều lắm.” Sau đó ông lại gạch.

 

Ông bảo lúc ấy ông nghĩ nếu mẹ đọc được câu ấy, có khi mẹ lại khóc. Thế là ông không viết nữa.

Lá thư ấy cuối cùng cũng không được gửi.

Nhiều năm sau, khi ông trở về, chiếc ba lô đã cũ, quần áo đã sờn, người cũng gầy đi rất nhiều. Mẹ ông vẫn đứng trước cửa đợi con.

Ông kể:

- Mẹ không hỏi ông đã khổ thế nào. Mẹ chỉ hỏi: “Có đói không con?”

Ông cười mà mắt đỏ hoe.

Bữa cơm hôm ấy chẳng có gì đặc biệt. Chỉ là bát canh rau, đĩa cá kho và bát cơm trắng. Nhưng ông bảo đó là một trong những bữa cơm ngon nhất đời mình.

Sau này ông lập gia đình, có con rồi có cháu. Chiếc ba lô cũ được ông giữ lại.

Tôi từng nghĩ ông giữ nó vì đó là kỷ vật của một thời tuổi trẻ.

Nhưng nhiều năm sau, tôi mới hiểu: ông giữ chiếc ba lô không phải để nhớ những ngày tháng gian khổ, mà để nhớ những con người đã từng cùng ông đi qua những ngày tháng ấy.

Có những người đồng đội sau này trở về quê. Có người ở lại nơi chiến trường. Có người mất liên lạc. Có người thỉnh thoảng mới gặp lại sau vài chục năm.

Ông vẫn nhớ tên họ.

Mỗi lần có ai hỏi chuyện ngày xưa, ông thường kể rất ít. Ông không thích nói mình đã làm được những gì. Ông thường nhắc về những người khác.

Ông nhớ người đã chia cho ông nửa củ sắn khi đói.

Nhớ người đồng đội từng cõng một người bị thương.

Nhớ một anh lính trẻ luôn giữ trong túi áo tấm ảnh mẹ.

Và nhớ cả người bạn đã hẹn rằng sau này hòa bình sẽ cùng nhau về quê uống một chén rượu.

Lời hẹn ấy cuối cùng không thành.

Một buổi chiều, tôi ngồi bên ông, hỏi: Nếu được quay lại tuổi hai mươi, ông có đi bộ đội nữa không?

Ông nhìn ra ngoài sân. Một lúc sau ông mới trả lời: Nếu đất nước cần thì vẫn đi.

Tôi hỏi tiếp: Ông có tiếc tuổi trẻ không?

Ông cười: Ai mà chẳng tiếc. Nhưng có những việc nếu ngày ấy không làm thì cả đời sẽ thấy mình còn thiếu một điều gì đó.

Ông đưa tay mở chiếc ba lô cũ.

Bên trong chẳng có gì nhiều. Một chiếc khăn tay đã bạc màu, vài tấm ảnh nhỏ và một mảnh giấy gấp làm tư.

Tôi mở ra. Đó là lá thư năm xưa, dòng chữ “Con nhớ mẹ nhiều lắm” vẫn còn đó, dù đã bị ông gạch đi.

Tôi nhìn ông.

Ông chỉ cười: Hồi trẻ sĩ diện lắm. Nhớ mẹ mà cũng không dám viết.

Tôi bật cười, còn ông thì nhìn ra ngoài cửa.

Ngoài sân, nắng cuối ngày đang rơi xuống những tàu lá chuối. Chiếc ba lô cũ nằm trên đầu gối ông, nhỏ bé và im lặng.

Tôi chợt nghĩ, lịch sử đôi khi không chỉ nằm trong những trận đánh hay những mốc thời gian lớn lao.

Lịch sử còn nằm trong một chiếc ba lô cũ.

Trong một lá thư chưa gửi.

Trong bữa cơm có bát canh rau của người mẹ chờ con.

Và trong ký ức của những người lính đã đi qua chiến tranh, trở về làm cha, làm ông, rồi lặng lẽ kể lại cho con cháu nghe về một thời tuổi trẻ mà họ đã gửi lại cho quê hương.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CHIẾC BA LÔ CŨ VÀ LÁ THƯ CHƯA GỬI | Câu chuyện thời hoa lửa