Chiếc ba lô năm ấy
Trong căn nhà sàn của gia đình ông Hà Văn Yên, sinh năm 1956, ở thôn Măng, vẫn còn một chiếc ba lô vải đã sờn màu theo thời gian. Những đường chỉ đã bạc, quai đeo đã nhiều lần được vá lại, nhưng với ông, đó là kỷ vật thiêng liêng nhất của một thời tuổi trẻ khoác áo lính.
Chiếc ba lô năm ấy
(Nhân vật: Ông Hà Văn Yên, sinh năm 1956, thôn Măng)
Trong căn nhà sàn của gia đình ông Hà Văn Yên, sinh năm 1956, ở thôn Măng, vẫn còn một chiếc ba lô vải đã sờn màu theo thời gian. Những đường chỉ đã bạc, quai đeo đã nhiều lần được vá lại, nhưng với ông, đó là kỷ vật thiêng liêng nhất của một thời tuổi trẻ khoác áo lính.
Năm 1974, khi vừa tròn mười tám tuổi, Hà Văn Yên tình nguyện lên đường thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Ngày nhận lệnh nhập ngũ, cả thôn Măng đến chia vui và tiễn anh. Người mẹ cẩn thận xếp vào chiếc ba lô vài bộ quần áo, một gói muối vừng, ít cơm nếp và chiếc khăn thổ cẩm do chính tay bà dệt.
Trước lúc chia tay, cha anh đặt tay lên vai con và dặn:
"Con mang theo chiếc ba lô này không chỉ để đựng hành trang, mà còn mang theo niềm tin của gia đình và quê hương. Dù ở đâu cũng hãy sống xứng đáng với người lính Cụ Hồ."
Lời dặn ấy theo ông suốt những năm tháng quân ngũ.
Chiếc ba lô cùng ông vượt qua những cánh rừng Trường Sơn, theo những cuộc hành quân dài ngày, qua những đêm mưa bom, bão đạn. Trong ba lô luôn có cuốn sổ tay, vài lá thư của gia đình và nắm đất nhỏ lấy từ vườn nhà trước ngày lên đường.
Có những đêm dừng chân giữa rừng sâu, ông mở ba lô, lấy lá thư của mẹ ra đọc. Những dòng chữ mộc mạc như tiếp thêm sức mạnh:
"Con trai của mẹ! Ở nhà mọi người đều khỏe. Con hãy yên tâm làm nhiệm vụ. Quê hương luôn mong con bình an trở về."
Ông gấp lá thư cẩn thận, đặt lại vào ba lô rồi tiếp tục cùng đồng đội lên đường.
Mùa xuân năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, niềm vui vỡ òa trong đơn vị. Những người lính ôm chầm lấy nhau giữa nước mắt và tiếng cười. Ông Hà Văn Yên lặng lẽ đặt tay lên chiếc ba lô đã theo mình suốt những năm tháng chiến tranh. Ông hiểu rằng, trong chiếc ba lô ấy không chỉ có hành trang của một người lính, mà còn có tình yêu thương của gia đình và niềm tin của quê hương.
Ngày trở về thôn Măng, bà con ra tận đầu bản đón những người lính chiến thắng. Người mẹ ôm con trai vào lòng, còn chiếc ba lô được bà nâng niu như một báu vật.
Nhiều năm sau, khi cuộc sống đã bình yên, ông Hà Văn Yên vẫn giữ chiếc ba lô trên gác nhà sàn. Mỗi dịp gặp gỡ đoàn viên, thanh niên hoặc kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, ông lại mang chiếc ba lô xuống, kể cho lớp trẻ nghe về những năm tháng chiến đấu gian khổ.
Ông nói:
"Chiếc ba lô này không quý vì giá trị vật chất. Nó quý vì đã cùng tôi đi qua chiến tranh, chứng kiến sự hy sinh của đồng đội và nhắc tôi rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao máu xương."
Lũ trẻ chuyền tay nhau ngắm chiếc ba lô cũ. Dù vải đã bạc màu, từng đường khâu đã sờn, nhưng trong mắt các em, đó là biểu tượng của lòng yêu nước, của tuổi trẻ dám cống hiến vì Tổ quốc.
Chiều xuống trên thôn Măng, ông Hà Văn Yên cẩn thận cất chiếc ba lô trở lại vị trí cũ. Ngoài hiên, lá cờ Tổ quốc tung bay trong gió. Ông mỉm cười mãn nguyện, bởi điều ông và đồng đội từng chiến đấu để gìn giữ đã trở thành hiện thực: một quê hương bình yên, đổi mới và tràn đầy tiếng cười.
Thông điệp: Có những kỷ vật tuy bình dị nhưng chứa đựng cả một thời tuổi trẻ và lòng yêu nước. Chiếc ba lô năm ấy là minh chứng cho sự cống hiến, tinh thần quả cảm của người lính Việt Nam và là lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay biết trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm với quê hương, đất nước.



