Khác

Chiếc bi đông 'dẫn lối' người lính trở về đất mẹ PHẦN 3 (1)

Trong không khí hào hùng của những ngày tháng Tư lịch sử, chúng tôi có dịp gặp lại những nhân chứng đã từng trực tiếp tham gia chiến dịch giải phóng Nha Trang và Phan Rang mùa Xuân năm 1975. Dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức về một thời “hoa lửa” vẫn vẹn nguyên trong tâm khảm những người lính năm xưa, góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc.

Quảng Ninh02/04/2026Bùi Thị Thùy Linh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tiên Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mở toang cánh cửa giải phóng Sài Gòn

Sau những thất bại liên tiếp ở Tây Nguyên và các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, địch rơi vào thế hoảng loạn cực độ vì nguy cơ quân ta tấn công dồn dập về hướng Sài Gòn là rất lớn. Để bảo vệ “sào huyệt” cuối cùng từ xa, địch đã chọn Phan Rang làm điểm tựa chiến lược, biến nơi đây thành một “lá chắn thép” mới nhằm ngăn chặn bước chân của quân giải phóng.

Trong dòng hồi ức của CCB Nguyễn Trọng Nghĩa (78 tuổi) - nguyên Đại đội trưởng Đại đội Đặc công 311, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (trước đây), những ngày đầu tháng 4 năm 1975 thật sự là những ngày rực lửa. Từ ngày 1 đến ngày 3-4-1975, các toán tàn quân từ Đà Lạt tháo chạy theo đường 11 về Phan Rang, kéo theo hàng loạt đơn vị địch từ đèo Krôngpha đổ xuống.

Khi đó, ông Nghĩa được giao nhiệm vụ chỉ huy Đại đội Đặc công 311 thực hiện nhiệm vụ đánh chặn, tiêu diệt tàn quân địch tháo chạy từ Đà Lạt về Phan Rang. Trận đánh đêm 2-4-1975 tại khu vực Sông Mỹ là một minh chứng cho sự khốc liệt. Quân địch từ Đà Lạt xuống Phan Rang theo đường 11 đã điên cuồng dùng pháo 105 ly bắn phá ác liệt để mở đường tháo chạy, nhưng gặp phải sự chống trả quyết liệt của Đại đội Đặc công 311 và bộ đội địa phương.

Cũng theo lời kể của vị cựu đại đội trưởng, trong trận đánh này, ông bị thương nặng ở đầu. Nhưng với ý chí thép, chỉ vài ngày sau khi vết thương chưa kịp lành, ông đã rời căn cứ Bác Ái xuống xóm Dừa để tiếp tục họp bàn kế hoạch tác chiến, quyết tâm giải phóng quê hương.

Đêm 7-4-1975, lực lượng Đặc công 311, Biệt động 314 cùng các đội vũ trang, du kích và cả những dân vệ đã được ta giác ngộ, đồng loạt tấn công vào các mục tiêu trọng yếu như trại Nguyễn Hoàng, ga Tháp Chàm, cầu Mống và Quận lỵ Bửu Sơn… Suốt 2 ngày đêm sau đó, chiến sự diễn ra cực kỳ căng thẳng. Các chiến sĩ của ta đã kiên cường đánh lui 16 đợt phản kích của địch tại khu vực Tháp Chàm dưới sự đùm bọc của nhân dân.

Rạng sáng ngày 14-4-1975, tiếng pháo công kích của quân ta bắt đầu rền vang, trùm khói lửa lên các điểm chốt của địch từ Bà Râu, Suối Đá, Kiền Kiền đến sân bay Thành Sơn… Đến 7 giờ sáng cùng ngày, khi đợt hỏa lực cuối cùng vừa chấm dứt, bộ binh Sư đoàn 3 tràn lên chiếm lĩnh Du Long và các vị trí then chốt, bẻ gãy mọi nỗ lực phản công của địch. Trên đường 11, Trung đoàn 25 bộ binh cũng đẩy lùi cuộc phản kích của Lữ đoàn dù, áp sát ngoại vi sân bay. Đến sáng ngày 15-4-1975, sau nhiều đợt tấn công, quân ta đã đánh bật bọn địch ra khỏi Kiền Kiền, Ba Tháp...

Điểm mấu chốt của chiến dịch giải phóng Phan Rang diễn ra vào sáng ngày 16-4-1975. CCB Nguyễn Trọng Nghĩa vẫn nhớ như in khoảnh khắc từ núi Cà Đú, ông sử dụng ống nhòm quan sát khu vực Hộ Diêm và phát hiện một đoàn quân có xe tăng dẫn đầu đang tiến dọc Quốc lộ 1 hướng về Phan Rang. Với kinh nghiệm của người lính đặc công, ông nhận định đó là lực lượng chủ lực của ta từ Nha Trang tiến vào.

Ngay lập tức, ông tập hợp đơn vị và chủ động bắt liên lạc, phối hợp với quân chủ lực tổ chức tiến công, đánh thốc vào sườn quân địch đang tháo chạy trên Quốc lộ1. Đồng thời dẫn đường cho quân ta tiến đánh sân bay Thành Sơn, cảng Ninh Chữ và thị xã Phan Rang. Đúng 9 giờ 30 phút ngày 16-4-1975, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Tòa hành chính tỉnh Ninh Thuận. Chính quyền ngụy tại đây hoàn toàn sụp đổ, Phan Rang - Tháp Chàm chính thức được giải phóng.

Ông Nguyễn Văn Bé (phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa) - nguyên là du kích xóm Dừa, từng tham gia phối hợp cùng Đại đội Đặc công 311 tiến công khu vực Tháp Chàm vào đêm ngày 7 và ngày 8-4-1975 vẫn không thể quên được không khí ngày chiến thắng khi người dân đứng kín hai bên đường 21 tháng 8 để chào đón quân giải phóng.

“Sáng ngày 16-4-1975, tôi cùng các du kích xóm Dừa và các lực lượng từ núi Cà Đú về Phan Rang, rồi tiếp tục lên Tháp Chàm để tiếp quản và bảo vệ các điểm trọng yếu do quân chủ lực của ta vừa chiếm giữ. Ngày hôm ấy, người dân Phan Rang - Tháp Chàm vỡ òa trong niềm vui, phấn khởi khi quê hương được giải phóng. Khắp các tuyến đường, người dân đứng kín hai bên, tay cầm cờ nồng nhiệt chào đón quân giải phóng...” - Ông Bé nhớ lại.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những người lính năm xưa giờ tóc đã bạc trắng, nhưng ký ức về những ngày tháng Tư rực lửa vẫn luôn là một phần lịch sử vẻ vang của dân tộc. Đó là bài học vô giá về lòng yêu nước, về tinh thần đoàn kết quân dân và ý chí quyết chiến quyết thắng, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình để tiếp tục nỗ lực xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn