Chiếc bi đông nước giữa chiến hào
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
“Chiếc bi đông nước giữa chiến hào”
Tác giả: Hoàng Thị Phượng – PBT Đoàn xã Đông Thành
THÔNG TIN NHÂN VẬT
Họ và tên: Hoàng Minh Thao - sinh năm 1943
Đơn vị: Đại đội 674, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316
Chức vụ trong khi tham gia chiến đấu : Tổ viên chiến đấu
Tham gia chiến đấu: vận chuyển lương thực, đạn dược ra tiền tuyến, tải thương, bảo vệ tuyến hành quân và trực tiếp tham gia chiến đấu khi có lệnh.
Hiện nay: Thương binh
“Chiếc bi đông nước giữa chiến hào”
Năm 1951, khi vừa tròn hai mươi tuổi, tôi tình nguyện lên đường nhập ngũ. Tôi được giao giữ chức vụ Tổ viên chiến đấu. Nhiệm vụ của cùng đồng đội đào chiến hào, vận chuyển lương thực, đạn dược ra tiền tuyến, tải thương, bảo vệ tuyến hành quân và trực tiếp tham gia chiến đấu khi có lệnh..
Trong những năm tháng ấy, điều khó khăn nhất không phải là thiếu cơm, thiếu áo mà là luôn phải đối mặt với bom đạn và cái chết. Có những đêm hành quân xuyên rừng, trời mưa như trút nước, quần áo ướt sũng, chân phồng rộp nhưng không ai kêu ca. Chúng tôi chỉ mong hoàn thành nhiệm vụ để đất nước sớm có ngày độc lập.
Kỷ niệm khiến tôi nhớ suốt cuộc đời xảy ra trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đơn vị tôi được lệnh áp sát một cứ điểm của địch. Ban ngày đào chiến hào, ban đêm vận chuyển đạn và lương thực ra tiền tuyến. Mỗi mét chiến hào đều được đổi bằng biết bao mồ hôi và máu của đồng đội.
Một buổi trưa, nắng Tây Bắc gay gắt như đổ lửa. Sau nhiều giờ chiến đấu, cả tiểu đội chỉ còn lại một chiếc bi đông nước. Anh em ai cũng khát khô cổ, môi nứt nẻ vì bụi đất và khói súng.
Đúng lúc ấy, tôi thấy Hòa – chiến sĩ trẻ nhất đơn vị – bị mảnh pháo sượt qua vai, nằm tựa vào thành chiến hào. Tôi mở nắp bi đông, định đưa cho cậu ấy uống.
Hòa lắc đầu, mỉm cười:
"Anh Thao giữ lại cho cả tiểu đội. Em chịu được."
Tôi chưa kịp nói gì thì phía trước vang lên tiếng hô cần tiếp đạn. Không ai bảo ai, chúng tôi chuyền tay nhau chiếc bi đông rồi lại vác những hòm đạn nặng trĩu chạy dọc chiến hào. Cuối cùng, khi mở ra, chiếc bi đông vẫn còn gần nguyên. Người nào cũng nhường phần nước quý giá ấy cho đồng đội.
Chiều hôm đó, trận đánh diễn ra ác liệt hơn bao giờ hết. Khi tôi vừa đưa tổ chiến đấu vượt qua một đoạn chiến hào thì một quả đạn pháo nổ sát bên. Tôi chỉ kịp nghe tiếng đất đá đổ xuống rồi thấy chân trái đau nhói. Mảnh pháo đã găm sâu vào bắp chân.
Đồng đội định cáng tôi ra phía sau nhưng tôi gạt đi:
"Cứ để tôi ở đây. Đừng vì tôi mà chậm nhiệm vụ."
Tôi lấy băng cá nhân quấn tạm vết thương rồi tiếp tục chỉ huy anh em giữ vững trận địa. Đến khi lá cờ "Quyết chiến – Quyết thắng" tung bay trên cứ điểm vừa được giải phóng, tôi mới ngã xuống vì mất quá nhiều máu.
Sau chiến dịch, tôi được điều trị tại bệnh viện dã chiến. Vết thương để lại di chứng suốt đời và tôi được công nhận là thương binh chống Pháp.
Đến hôm nay, điều tôi nhớ nhất không phải là nỗi đau của vết thương, mà là hình ảnh chiếc bi đông nước được chuyền từ tay người này sang người khác giữa chiến hào năm ấy. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, không ai nghĩ đến bản thân mình trước. Tất cả đều nghĩ cho đồng đội.
Sau ngày hòa bình lập lại, tôi trở về quê hương. Mỗi lần nhìn con cháu cắp sách đến trường hay thấy cánh đồng lúa xanh mướt, tôi lại nhớ đến những người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường Điện Biên. Họ đã không kịp trở về để nhìn thấy đất nước thanh bình.
Có người hỏi tôi điều gì quý giá nhất trong cuộc đời người lính. Tôi luôn trả lời:
"Không phải huân chương, cũng không phải danh hiệu thương binh. Điều quý giá nhất là được chiến đấu vì Tổ quốc và có những người đồng đội sẵn sàng nhường cho nhau cả ngụm nước cuối cùng giữa chiến hào."
Chiếc bi đông năm ấy giờ không còn nữa, nhưng bài học về tình đồng chí, lòng yêu nước và sự hy sinh vẫn luôn theo tôi suốt cuộc đời. Đó là ký ức đẹp nhất của một thời hoa lửa mà tôi sẽ mãi khắc ghi.



