Chiếc bi đông trở về từ Thành cổ
Trong gian nhà nhỏ của ông Cảnh có một chiếc bi đông nhôm đã móp. Trên thân bi đông có hai chữ “C – L” được khắc vụng về. Nhiều người tưởng đó là tên ông và tên quê Diễn Lâm. Nhưng ông bảo hai chữ ấy là tên của hai người lính đã cùng uống nước từ một chiếc bi đông trong những ngày ở Quảng Trị.
Ông Cảnh sinh năm 1950 trong một gia đình làm ruộng tại Diễn Lâm. Hồi nhỏ, ông thường theo cha ra đồng, trưa nằm dưới bóng cây nghe tiếng sáo diều. Ông học hết phổ thông rồi tham gia dân quân địa phương. Năm 1969, khi vừa mười chín tuổi, ông nhập ngũ.
Ngày rời quê, cha ông trao cho con trai chiếc bi đông mới. Ông cụ dặn ở nhà, một bát nước chè xanh có thể mời cả xóm; ra đơn vị, một ngụm nước cũng phải biết nhường đồng đội.
Sau thời gian huấn luyện, Cảnh được bổ sung vào đơn vị chiến đấu. Đầu năm 1972, đơn vị hành quân vào Quảng Trị. Chặng đường dài, người lính trẻ đi qua nhiều vùng đất trước đó chỉ biết trên bản đồ. Càng vào gần chiến trường, cảnh vật càng khác. Những cánh đồng vắng hơn, nhiều mái nhà đã được sơ tán, các đoàn quân nối nhau đi trong đêm.
Người bạn thân nhất của Cảnh là Lâm, quê ở Hà Tĩnh. Lâm nhiều hơn Cảnh hai tuổi, nói chuyện nhỏ nhẹ và rất khéo vá áo. Cảnh khỏe, thường mang giúp bạn một phần đồ dùng; Lâm lại hay nhắc Cảnh giữ chân khô, ăn đủ phần và đừng chủ quan khi trời mưa.
Trong một lần chuyển vị trí, bi đông của Lâm bị thất lạc. Từ đó, hai người dùng chung chiếc bi đông của Cảnh. Để dễ nhớ, Lâm dùng một mảnh kim loại nhỏ khắc lên thân bình hai chữ “C – L”.
Mùa hè năm ấy, Quảng Trị khắc nghiệt. Có những ngày nắng chang chang, nước trong bi đông nóng lên. Có những hôm mưa dầm, quần áo ướt mãi không khô. Mỗi lần nhận được nước, Cảnh và Lâm chỉ uống từng ngụm nhỏ rồi chuyền cho người bên cạnh.
Ông Cảnh kể với các cháu rằng ở chiến trường, người lính quý nước nhưng còn quý nhau hơn. Có khi ai cũng khát, vậy mà người cầm bi đông trước vẫn chỉ nhấp môi rồi đưa tiếp. Không cần nhắc nhở, mỗi người đều hiểu phía sau mình còn đồng đội.
Một chiều, đơn vị phải đưa một chiến sĩ bị thương về nơi cứu chữa. Đường đi lầy lội, mọi người thay nhau dìu bạn. Cảnh và Lâm dùng chiếc áo mưa làm chỗ đỡ tạm thời. Họ đi chậm, cố tránh những đoạn đất trơn. Mỗi khi người chiến sĩ ấy tỉnh lại, Cảnh cho bạn uống một ngụm nước nhỏ.
Khi đến nơi an toàn, bi đông chỉ còn vài giọt. Lâm lắc bình, cười bảo thế là nước đã đến đúng người cần nhất. Cảnh nghe vậy, trong lòng thấy nhẹ đi. Từ ngày ấy, ông hiểu sâu sắc lời cha: một ngụm nước biết nhường đúng lúc có thể mang theo cả tình người.
Những ngày chiến đấu ở Quảng Trị kéo dài. Cảnh không còn đếm được mình đã đi qua bao nhiêu trận mưa. Ông chỉ nhớ màu đất đỏ bám trên gấu quần, nhớ những bữa cơm vội và nhớ những lá thư quê được đọc dưới ánh sáng yếu.
Trong lá thư gửi vào, mẹ Cảnh kể lúa ngoài đồng đang thì con gái, cha vẫn ra đồng mỗi sáng. Bà không hỏi con đã chiến đấu ra sao, chỉ dặn giữ gìn sức khỏe, thương đồng đội như anh em. Đọc xong, Cảnh gấp lá thư thật nhỏ, cho vào túi áo bên ngực.
Cuối năm 1972, trong một lần đơn vị thay đổi đội hình, Cảnh và Lâm được phân công về hai bộ phận khác nhau. Trước khi đi, Lâm trả chiếc bi đông cho bạn. Hai người hẹn ngày hòa bình sẽ tìm về thăm quê nhau.
Sau chiến tranh, Cảnh trở về Diễn Lâm. Ông từng nhiều lần hỏi thăm tin tức của Lâm nhưng chỉ biết người bạn ấy đã chuyển sang một đơn vị khác. Thời gian trôi qua, cuộc sống bộn bề, cuộc hẹn năm xưa chưa thực hiện được. Chiếc bi đông vì thế vừa là kỷ vật, vừa là lời nhắc ông còn một người đồng đội cần tìm.
Ông Cảnh làm ruộng, lập gia đình rồi tham gia Hội Cựu chiến binh. Mỗi dịp địa phương tổ chức nói chuyện truyền thống, ông mang chiếc bi đông đến. Ông không kể nhiều về tiếng súng. Ông kể chuyện người lính chia nước, vá áo cho nhau và thay nhau đưa một đồng đội bị thương về nơi cứu chữa.
Ông muốn các cháu hiểu rằng lòng dũng cảm không chỉ thể hiện trong giờ phút đối mặt với hiểm nguy. Dũng cảm còn là biết sống có trách nhiệm, biết nghĩ đến người bên cạnh và không bỏ mặc ai khi họ gặp khó khăn.
Một lần, cậu cháu nội xin ông cho đánh bóng chiếc bi đông để nó đẹp hơn. Ông lắc đầu. Những vết móp và màu nhôm xỉn chính là phần ký ức còn lại. Nếu đánh bóng hết, nó sẽ giống một chiếc bình mới mua ngoài chợ, không còn kể được câu chuyện của mình.
Mấy chục năm sau, người đồng đội tên Lâm vẫn chưa được tìm thấy. Nhưng ông Cảnh tin ở một làng quê nào đó, Lâm cũng đang kể cho con cháu nghe về người bạn Diễn Lâm và chiếc bi đông có hai chữ khắc vụng.
Trên bàn, chiếc bi đông đã cạn từ lâu. Thế mà mỗi khi ông Cảnh nâng nó lên, người nghe lại cảm thấy bên trong vẫn còn một dòng nước mát – dòng nước của tình đồng đội đi qua những tháng năm gian khó mà không bao giờ vơi.



