Chiếc địa bàn của Trung tướng Phạm Xuân Thệ
Chiếc địa bàn của Trung tướng Phạm Xuân ThệTrung tướng Phạm Xuân Thệ sinh năm 1947, quê ở thôn Khả Phong, xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Ông nhập ngũ tháng 8 năm 1967 khi vừa tròn 20 tuổi. Năm 1976 - 1977, tốt nghiệp Học viện Quân sự Chính trị tại Đà Lạt và có thời gian tu nghiệp ở Học viện Quân sự Liên Xô (cũ). Đồng chí tham gia 6 chiến dịch ở chiến trường miền Nam Việt Nam và Lào, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tháng 4/1975.
Ngày 30/4/1970, Trung đoàn 54 ngụy được sự yểm trợ của hỏa lực Mỹ đổ quân xuống Cao điểm 44 - Khe Đông, Động Cô Tiên và Động Ché thuộc tỉnh Quảng Trị. Cuối tháng 5/1970, địch có ý định mở cuộc hành quân ra vùng Hướng Hóa, Quảng Trị và tiến công sang đất Lào nhằm cắt đứt nguồn hậu cần, sự chi viện của miền Bắc để làm suy yếu cách mạng miền Nam. Trước tình hình đó, với quyết tâm tiêu diệt địch, Sư đoàn 304 đã chủ trương dùng Trung đoàn 66 và lực lượng đặc công tiến sâu vào đất Ba Lòng nhằm đánh phủ đầu, tiêu diệt từng cánh quân địch, làm chậm và phá kế hoạch của chúng. Ngày 2/6/1970, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66 đã tổ chức tập kích tiêu diệt Tiểu đoàn 2, một đại đội công binh, một trung đội thám báo và Sở chỉ huy của Trung đoàn 54 ngụy ở Động Cô Tiên. Trong trận này, đồng chí Phạm Xuân Thệ, Đại đội phó Đại đội 11 được trên giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy Đại đội 11 và được trang bị chiếc địa bàn để chỉ huy chiến đấu. Đồng chí đã sử dụng chiếc địa bàn này để xác định phương hướng và chỉ huy đơn vị nhanh chóng thọc sâu vào Sở chỉ huy của địch góp phần giải quyết nhanh gọn các trận đánh từ tháng 6/1970 đến tháng 4/1975. Tháng 3/1971, mũi thọc sâu của Đại đội 10, Tiểu đoàn 9 ,Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 do Đại đội trưởng Phạm Xuân Thệ chỉ huy đã nhanh chóng chiếm được ngã 3 Bản Đông (Quảng Trị) và thu được một máy bay trực thăng của địch không kịp cất cánh trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Đầu tháng 4/ 1972, Đại đội trưởng Phạm Xuân Thệ đã chỉ huy Đại đội 11, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 đón lõng, đánh địch rút chạy từ Động Toàn về Mai Lộc (Quảng Trị) kết thúc chiến dịch Trị Thiên trong cuộc Tiến công chiến lược năm 1972. Trong trận chiến đấu này, Đại đội 11 đã diệt gần một đại đội địch và bắt sống nhiều tên địch. Ngày 6/8/1974, trên cương vị là Tham mưu phó Trung đoàn 66, đồng chí Phạm Xuân Thệ được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 9 tấn công vào quận lỵ Thượng Đức ở phía tây tỉnh Quảng Đà (nay là huyện Đại Lộc, Quảng Nam). Quận lỵ Thượng Đức được mệnh danh là “Cánh cửa thép” của Đà Nẵng, bởi núi cao, hiểm trở bao quanh. Để đánh vào đây, quân ta chỉ có hướng Tây là hướng tấn công duy nhất. Dựa vào thế hiểm trở, ngụy quân đã biến cánh cửa phía tây thành tử điểm “bất khả xâm phạm” bằng cách bố trí hỏa lực mạnh, nhiều tầng, nhiều vòng. Bên cạnh hỏa lực mạnh, súng ống, trang thiết bị tối tân, quân địch được đánh giá rất ngoan cố với gần 1,6 vạn quân. Cuộc chiến đấu tại đây diễn ra rất quyết liệt, nhiều chiến sĩ bị chôn vùi bởi đạn pháo, một số bị thương, mắc kẹt trên hàng rào thép gai địch. Mục tiêu cuối cùng là đặt được bộc phá, đánh tung hàng rào địch. Để giảm bớt thương vong, giành chiến thắng, ta thay đổi chiến thuật bằng cách điều pháo chống tăng 76,2mm, pháo cao xạ 37mm lên đồi cao nhắm các lỗ châu mai địch bắn thẳng. Mờ sáng ngày 7/8 các loạt pháo từ xa của ta dội bão lửa xuống đầu địch. Quận trưởng quận lỵ Thượng Đức dính đạn, chết thảm trong loạt đạn đầu tiên. Tên Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 79 biệt động quân Hà Văn Lầu, Quận phó Vũ Trung Tín bị bắt sống. Sau gần 4 giờ chiến đấu, đến 9 giờ sáng ngày 7/8/1974, Thượng Đức hoàn toàn giải phóng. Địch điên cuồng phản kích, hòng tái chiếm nhưng thất bại. Sau đó, đồng chí tiếp tục chỉ huy đơn vị chốt giữ ở điểm cao 1062 tại Mặt trận Thượng Đức, loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 Sư đoàn dù ngụy. Sau trận này, Thượng úy Phạm Xuân Thệ được phong hàm cấp Đại úy, giữ chức Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 304. Ngày 29/3/1975, đồng chí chỉ huy Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66 đánh chiếm sân bay Đà Nẵng. Đêm ngày 21/4/1975, đơn vị đánh chiếm cầu Bình Tuy tạo mũi tấn công thọc sâu vào thị xã Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy (nay là tỉnh Bình Thuận). Sau 2 giờ nổ súng, quân ta làm chủ hoàn toàn thị xã. Chiều ngày 27/4/1975, đồng chí chỉ huy Tiểu đoàn 9 bộ binh lên tăng cường cho Trung đoàn 9 tiếp tục đánh chiếm căn cứ Nước Trong. Đến trưa ngày 28/4/1975, quân ta làm chủ hoàn toàn căn cứ Nước Trong. Tiếp đó, ngày 29/4, lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 gồm Trung đoàn 66, Lữ đoàn xe tăng 203, pháo binh, công binh, đặc công… tiến đánh vào Sài Gòn.Trưa ngày 30/4/1975, đồng chí Thệ cùng một số cán bộ, chiến sĩ tiến vào Dinh Độc Lập bắt Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cùng toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn. Sau đó, đồng chí cùng một số cán bộ, chiến sĩ áp giải Dương Văn Minh ra Đài phát thanh Sài Gòn đọc bản tuyên bố đầu hàng. 11 giờ 30 phút lá cờ của Quân giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Với những thành tích đạt được, đồng chí Phạm Xuân Thệ được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều Huân, Huy chương cao quý như Huân chương Chiến công Giải phóng hạng 3, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Ngày 14/4/2011, đồng chí Phạm Xuân Thệ được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Hiện nay, chiếc địa bàn đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam với số đăng ký 11413 K1- 1935./.Đặng Bích Liên



