Anh hùng Lực lượng vũ trang

Chiếc khăn chàm ngày lên đường

Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Hoàng Thị Pàn, một người phụ nữ Tày ở vùng núi Cao Bằng. Cụ bảo rằng trong đời mình đã dệt rất nhiều khăn chàm, nhưng có một chiếc khăn bà nhớ suốt hơn bảy mươi năm. Đó là chiếc khăn chàm bà trao cho em trai trong ngày cậu lên đường theo bộ đội.

Cao Bằng14/08/2026Xã Hữu Kiệm (Đoàn xã Hữu Kiệm)6 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chiếc khăn chàm ngày lên đường

Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Hoàng Thị Pàn, một người phụ nữ Tày ở vùng núi Cao Bằng. Cụ bảo rằng trong đời mình đã dệt rất nhiều khăn chàm, nhưng có một chiếc khăn bà nhớ suốt hơn bảy mươi năm. Đó là chiếc khăn chàm bà trao cho em trai trong ngày cậu lên đường theo bộ đội.

Năm 1950, bản Nà Cọ còn nghèo lắm. Nhà sàn lợp lá cọ, quanh năm khói bếp ám đen những cột gỗ. Người dân sống nhờ nương ngô, ruộng bậc thang và những mùa mưa nắng thất thường.

Em trai cụ tên là Bế, mới mười chín tuổi. Từ ngày tham gia Thanh niên Cứu quốc, cậu thường đi họp đêm, đưa tin cho cán bộ và giúp bộ đội vượt rừng.

Một chiều cuối thu, Bế về nhà sớm hơn mọi ngày. Cậu ngồi bên bếp lửa rất lâu rồi nói nhỏ:

– Chị ơi, mai em đi bộ đội.

Cụ Pàn đang quay sợi, bàn tay khựng lại.

Ngoài trời, gió núi thổi qua rừng trúc nghe xào xạc.

Đêm ấy hai chị em ngồi bên bếp lửa đến khuya. Bế kể về đơn vị sắp lên đường, về những người bạn cùng tuổi và về ước mong đất nước sớm hết giặc.

Cụ Pàn nghe mà lòng vừa tự hào vừa lo lắng.

Nhìn chiếc áo chàm đã sờn vai của em, bà chợt nhớ trong hòm còn một tấm vải chàm tự nhuộm từ mùa trước. Bà lấy ra, cắt thành chiếc khăn dài rồi ngồi khâu dưới ánh đèn dầu.

Kim chỉ đi chậm vì mắt bà đã nhòe nước.

Bế thấy vậy liền nói:

– Chị đừng thức nữa.

Cụ mỉm cười:

– Ngày em đi phải có cái khăn mới.

Người Tày quý khăn chàm như một phần của tình thân. Khăn dùng để quàng cổ, che mưa, gói đồ, và đôi khi chỉ để nhớ về người ở nhà.

Cụ Pàn khâu đến gần sáng mới xong. Chiếc khăn không đẹp lắm, đường chỉ còn hơi lệch, nhưng bà vuốt đi vuốt lại rất lâu rồi gấp cẩn thận đặt bên bếp.

Sáng hôm sau, sương phủ trắng thung lũng. Thanh niên trong bản tập trung ở đầu dốc để lên đường.

Mẹ già không còn, nên cụ Pàn là người tiễn em.

Bà lấy chiếc khăn chàm quàng lên cổ Bế rồi dặn:

– Đêm lạnh thì kéo lên che cổ.

– Ừ chị.

– Đi đâu cũng nhớ mình là người của bản Nà Cọ.

Bế gật đầu.

Cụ muốn nói thêm nhiều điều: nhớ giữ sức khỏe, nhớ ăn uống, nhớ tìm đường sống mà trở về. Nhưng cuối cùng bà chỉ nói được một câu:

– Sống cho tử tế, em nhé.

Đến đầu bản, mọi người chuẩn bị đi. Bế quay lại nhìn chị mình lần cuối.

Cụ Pàn cố cười, nhưng nước mắt cứ chảy xuống má.

Bế bước đến ôm chị thật chặt.

– Em sẽ về.

Cụ không dám hỏi “Bao giờ?” vì chính bà cũng biết thời chiến chẳng ai nói trước được điều gì.

Đoàn thanh niên đi dần lên con dốc đất đỏ. Chiếc khăn chàm trên cổ em trai nổi bật giữa màn sương trắng.

Cụ đứng nhìn cho đến khi không còn thấy bóng người nữa.

Những tháng sau, bản thỉnh thoảng nhận được thư từ mặt trận. Có lần Bế gửi về một mảnh giấy nhỏ:

“Em vẫn mang khăn của chị.”

Cụ đọc đi đọc lại dòng chữ ấy đến thuộc lòng.

Rồi chiến tranh ác liệt hơn. Thư thưa dần.

Có năm trời, bà không nhận được tin gì.

Mỗi tối nhóm bếp, bà lại nhìn chiếc ghế em từng ngồi và tự hỏi giờ này em đang ở đâu giữa núi rừng hay chiến hào nào đó.

Mùa xuân năm 1954, một đồng đội của Bế về qua bản. Anh mang theo chiếc khăn chàm đã bạc màu và nói:

– Trước trận đánh cuối, Bế gửi tôi chiếc khăn này, dặn nếu có dịp thì mang về cho chị.

Cụ Pàn run run nhận lấy.

– Thế còn em tôi?

Người lính cúi đầu rất lâu.

– Đồng chí ấy đã hy sinh.

Cả căn nhà sàn im phăng phắc. Chỉ còn tiếng củi cháy lách tách trong bếp.

Cụ ôm chiếc khăn vào ngực mà không khóc thành tiếng.

Nhiều năm sau hòa bình, chiếc khăn chàm vẫn được bà giữ trong hòm gỗ cũ. Màu chàm đã nhạt, mép khăn sờn, nhưng nơi góc khăn còn nguyên đường chỉ vụng về của đêm bà thức trắng khâu cho em.

Tôi hỏi:

– Sao cụ không cất kỹ hơn để khỏi hỏng?

Cụ vuốt nhẹ mép khăn:

– Để thế này mới còn hơi người.

Rồi bà nói rất khẽ:

– Mỗi lần nhớ em, tôi lại mở khăn ra, như thấy nó vừa mới lên đường hôm qua.

Chiều xuống, khói bếp bay lên giữa thung lũng. Cụ Hoàng Thị Pàn ngồi bên hiên nhà, chiếc khăn chàm đặt trên đầu gối.

Tôi nhìn tấm khăn nhỏ bé ấy và hiểu rằng “Chiếc khăn chàm ngày lên đường” không chỉ là một kỷ vật của riêng một gia đình.

Đó là hình ảnh của biết bao cuộc chia tay trong chiến tranh, nơi người ở lại không có gì quý để trao ngoài tấm khăn tự dệt, nắm cơm ngô và lời dặn sống tử tế; còn người ra đi mang theo không chỉ hành trang, mà mang theo cả tình thương của bản làng trên con đường vì Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn