CHIẾC KHĂN TAY MÀU CHÀM
Năm 2026, trong buổi gặp mặt các cựu chiến binh tại xã Hải Châu, tôi được nghe câu chuyện của ông Nguyễn Đức Toàn, sinh năm 1955, quê huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Điều khiến tôi chú ý không phải là những tấm huân chương trên ngực áo ông, mà là một chiếc khăn tay màu chàm đã cũ, được gấp ngay ngắn trong túi áo.
TÊN TÁC PHẨM: CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
CHIẾC KHĂN TAY MÀU CHÀM
Tác giả: Lê Thị Thu Vân-Đoàn viên chi đoàn Hoàng Phú
Đồng tác giả: Ban thường vụ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Hải Châu
Thông tin nhân vật
-Họ tên nhân vật:
-Năm Sinh:
-Quê quán: Xã Hải Châu, Tỉnh Nghệ An
Năm 2026, trong buổi gặp mặt các cựu chiến binh tại xã Hải Châu, tôi được nghe câu chuyện của ông Nguyễn Đức Toàn, sinh năm 1955, quê huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Điều khiến tôi chú ý không phải là những tấm huân chương trên ngực áo ông, mà là một chiếc khăn tay màu chàm đã cũ, được gấp ngay ngắn trong túi áo.
Ông mỉm cười rồi nói:
“Chiếc khăn này đã theo tôi suốt cuộc chiến.”
Ông kể rằng năm 1973, khi vừa tròn 18 tuổi, ông viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Hôm lên đường, mẹ ông không biết nói gì nhiều. Bà chỉ đưa cho con trai một chiếc khăn tay màu chàm, ở góc khăn thêu bốn chữ nhỏ: “Bình an trở về.”
Ông gấp chiếc khăn cẩn thận, đặt vào túi áo ngực và mang theo suốt những chặng hành quân.
Đầu tháng 4 năm 1975, đơn vị của ông được lệnh tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau nhiều ngày hành quân liên tục, đơn vị tiến đến khu vực cầu Xa Lộ Biên Hòa, một vị trí quan trọng trên hướng tiến quân vào Sài Gòn.
Sáng 29/4/1975, tiếng pháo bắt đầu dội xuống. Khói súng phủ kín mặt đường. Những chiếc xe tăng của quân giải phóng tiến lên trong tiếng động cơ vang dội.
Ông Toàn là chiến sĩ thông tin. Nhiệm vụ của ông là bảo đảm liên lạc giữa đại đội và sở chỉ huy.
Khi trận đánh diễn ra quyết liệt, đường dây điện thoại bị đứt nhiều lần vì pháo kích. Ông cùng hai đồng đội phải liên tục chạy dọc tuyến, tìm từng điểm đứt để nối lại.
Có lần, vừa cúi xuống nối dây thì một quả đạn nổ cách đó không xa. Đất đá phủ kín người. Ông bị một mảnh kim loại cứa rách vai áo.
Theo phản xạ, ông đưa tay vào túi ngực.
Chiếc khăn tay của mẹ vẫn còn nguyên.
Ông lấy chiếc khăn quấn tạm vết thương rồi tiếp tục làm nhiệm vụ.
Chiều hôm đó, nhờ hệ thống liên lạc được khôi phục kịp thời, đơn vị nhận lệnh cơ động đúng thời điểm, phối hợp với các mũi tiến công khác vượt qua tuyến phòng thủ.
Đến trưa 30/4/1975, khi nghe tin Dinh Độc Lập đã được tiếp quản, cả đơn vị lặng người trong vài giây rồi vỡ òa trong niềm vui.
Ông Toàn mở túi áo, lấy chiếc khăn tay đã loang màu khói súng và vết máu khô.
Ông khẽ nói:
“Mẹ ơi… con đã trở về đúng như lời mẹ mong.”
Sau ngày đất nước thống nhất, ông mang chiếc khăn ấy về trao lại cho mẹ.
Bà cầm chiếc khăn thật lâu, những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống.
Không ai nói một lời.
Bởi cả hai đều hiểu, phía sau ngày đoàn tụ là biết bao gia đình mãi mãi không còn cơ hội đón người thân trở về.
Hơn năm mươi năm đã trôi qua, chiếc khăn tay màu chàm vẫn được ông gìn giữ như báu vật.
Mỗi lần trò chuyện với đoàn viên, thanh niên, ông đều đưa chiếc khăn ra và nói:
“Nó không có giá trị vật chất. Giá trị của nó nằm ở tình yêu của một người mẹ, là động lực để một người lính vượt qua những năm tháng gian khổ và trở về trong ngày đất nước thống nhất.”
Nghe câu chuyện của ông, tôi hiểu rằng chiến tranh không chỉ được ghi nhớ bằng những trận đánh hay chiến thắng, mà còn bằng những kỷ vật bình dị chứa đựng tình yêu thương, niềm tin và khát vọng hòa bình. Chính những điều giản dị ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho biết bao người lính trên con đường bảo vệ Tổ quốc..
Tác giả
Lê Thị Thu Vân



