CHIẾC KHĂN TAY MÀU XANH
Tôi là Trần Thị Bình, sinh năm 1951, quê ở Nam Định. Tôi sinh ra giữa vùng đồng bằng chiêm trũng, nơi mùa mưa nước ngập trắng cánh đồng, còn mùa gặt thì thơm mùi rơm mới. Tôi là con gái cả trong nhà, dưới tôi còn ba em nhỏ. Ngày tôi xin đi thanh niên xung phong, mẹ khóc suốt một đêm. Sáng hôm sau, mẹ lấy trong hòm gỗ ra một chiếc khăn tay màu xanh, tự tay thêu tên tôi ở góc khăn rồi dúi vào túi áo tôi. Mẹ bảo: “Mang theo để nhớ đường về.”
Tôi lên đường khi vừa tròn mười tám tuổi. Chúng tôi được đưa vào một cung đường ác liệt ở miền Trung. Nơi ấy, bom đạn cày xới ngày đêm. Đường vừa lấp xong lại bị đánh phá. Cây rừng cháy đen, đất đỏ quánh vào chân, mồ hôi hòa với khói bom thành một thứ mùi mà đến tận bây giờ tôi vẫn không quên.
Tiểu đội tôi có mười hai người, toàn con gái tuổi mười tám đôi mươi. Chúng tôi sống trong một căn hầm nhỏ bên sườn đồi. Ban ngày ngụy trang, ban đêm ra đường làm nhiệm vụ. Có những đêm, chúng tôi phải gùi đá, vác gỗ, san hố bom cho đến khi trời sáng. Mệt quá thì ngồi tựa vào nhau ngủ chốc lát, chưa kịp mơ gì đã nghe tiếng còi báo động.
Trong tiểu đội, tôi thân nhất với Hạnh, cô gái quê Thanh Hóa, sinh năm 1950. Hạnh có đôi mắt rất sáng và hát hay. Mỗi khi mệt, Hạnh lại hát khe khẽ, giọng bay lên giữa rừng đêm làm chúng tôi thấy lòng nhẹ hơn. Hạnh thường trêu tôi: “Bình lúc nào cũng giữ cái khăn xanh như báu vật.” Tôi cười: “Mẹ tớ cho đấy, mất là không có đường về đâu.”
Một đêm, trọng điểm chúng tôi bị đánh dữ dội. Bom nổ liên hồi, đất đá bắn tung tóe. Khi tiếng máy bay vừa xa, chúng tôi lao ra mặt đường. Một chiếc xe chở lương thực bị trúng mảnh bom, nằm nghiêng bên mép vực. Tài xế bị thương, còn hàng trên xe phải chuyển xuống ngay trước khi địch quay lại. Tôi cùng Hạnh và mấy chị em khác vội vã chuyền từng bao gạo, từng thùng hàng xuống hầm tạm.
Đang làm thì một loạt bom nữa rơi xuống. Tôi bị sức ép hất ngã, đầu va vào đá. Khi mở mắt, tôi thấy mọi thứ mờ đi. Bên cạnh, Hạnh đang cố kéo tôi vào hố tránh bom. Máu từ trán tôi chảy xuống mắt. Hạnh lấy chiếc khăn xanh trong túi áo tôi ra, vội vàng buộc chặt vết thương cho tôi. Tôi nắm tay Hạnh, nói: “Đừng làm bẩn khăn của mẹ tớ.” Hạnh vừa khóc vừa mắng: “Giờ còn tiếc khăn!”
Sau trận bom ấy, tôi được đưa về trạm quân y. Vết thương không nặng lắm, nhưng tôi phải nằm lại mấy ngày. Chiếc khăn xanh vẫn buộc trên đầu tôi, loang vết máu đã khô. Tôi nghĩ khi trở lại đơn vị, tôi sẽ giặt sạch rồi cất đi. Nhưng tôi không còn cơ hội nghe Hạnh trêu nữa.
Ngày tôi quay lại, tiểu đội lặng ngắt. Hạnh đã hy sinh trong một trận bom khi đang cắm tiêu dẫn đường cho xe qua. Chị tiểu đội trưởng đưa cho tôi chiếc lược nhỏ của Hạnh và nói: “Trước lúc đi làm nhiệm vụ, nó còn hỏi em Bình đã khỏe chưa.”
Tôi ôm chiếc lược vào ngực, nước mắt cứ thế trào ra. Tối ấy, tôi lấy chiếc khăn xanh ra giặt. Vết máu trên khăn không sạch hết, dù tôi vò rất lâu. Một góc khăn vẫn còn màu sẫm. Tôi định cất đi, nhưng rồi lại mang theo bên mình. Tôi nghĩ trong vết máu ấy có cả tôi, có cả Hạnh, có cả những năm tháng chúng tôi sống và chiến đấu bên nhau.
Sau hòa bình, tôi trở về quê. Mẹ tôi đã già, tóc bạc trắng. Thấy chiếc khăn xanh, mẹ nhận ra ngay. Mẹ vuốt lên vết máu cũ, không hỏi gì, chỉ ôm tôi thật chặt. Tôi kể mẹ nghe về Hạnh, về những đêm lấp đường, về những cô gái đã nằm lại giữa rừng khi tuổi đời còn rất trẻ. Mẹ khóc, rồi đặt chiếc khăn lên bàn thờ một lúc lâu như thắp hương cho tất cả.
Đến bây giờ, chiếc khăn xanh vẫn nằm trong chiếc hộp gỗ của tôi. Nó đã cũ, màu xanh phai gần hết, nhưng mỗi lần nhìn vào, tôi lại thấy hiện lên khuôn mặt Hạnh, nghe tiếng hát của bạn giữa đêm Trường Sơn. Với tôi, chiếc khăn ấy không chỉ là kỷ vật của mẹ. Nó là chứng nhân của một thời hoa lửa, là lời nhắc rằng có những tình bạn được viết bằng máu, bằng nước mắt và bằng lòng dũng cảm không bao giờ phai.



