Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CHIẾC MÁY BAY 963 VÀ CHIẾN CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA KHÔNG QUÂN VIỆT NAM

Đoạn nội dung tái hiện sự kiện đặc biệt trong lịch sử Không quân Nhân dân Việt Nam: trước chiến thắng Hàm Rồng ngày 3/4/1965, ta đã tiếp nhận một máy bay T-28 của Chính phủ Hoàng gia Lào do phi công xin hàng lái sang hạ cánh tại sân bay Bạch Mai (16/9/1963). Từ sự kiện bất ngờ này, dưới sự chỉ đạo của Quân chủng Phòng không – Không quân do Phùng Thế Tài làm Tư lệnh và Đặng Tính làm Chính ủy, ta đã bảo quản, nghiên cứu và quyết tâm cải tiến, biến chiếc T-28 thành vũ khí chiến đấu. Đây là bước ch

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

rận đọ sức trực tiếp và chiên thắng oanh liệt của lực lượng phi công tiêm kích non trẻ Việt Nam với lực lượng không quân hiện đại của đế quốc Mỹ ngày 3/4/1965 trên bầu trời Hàm Rồng, Thanh Hóa đã được ghi nhận vào lịch sử và trở thành ngày truyền thông ra quân đánh thắng trận đầu của không quân nhân dân Việt Nam. Nhưng trước đó hơn một năm, bằng chiếc máy bay T28 thu được của Chính phủ Hoàng gia Lào do một phi công bay sang hàng, không quân ta đã bắn rơi một chiếc máy bay vận tải C123 của Mỹ thả biệt kích xuống miền Bắc. Đây cũng là lần đầu tiên ta dùng máy bay địch để tiêu diệt máy bay địch.

Người phi công xin hàng cùng chiếc máy bayT28 không có hồ sơ.

Buổi trưa ngày 16-9-1963, trời mưa lất phất. Khi những người thợ của xưởng A33 (xưởng đại tu máy bay của Quân chủng Không quân) đóng tại sân bay Bạch Mai đang ngủ thì bỗng có tiếng máy bay lạ. Phó xưởng trưởng Trần Ngọc Khanh vội vàng bật dậy, không kịp mặc quần dài anh chạy bổ ra sân bay. Cảm giác của người thợ máy nhiều kinh nghiệm đã không lầm, một chiếc máy bay lạ đang hạ dần độ cao từ phía đầu đông sân bay, hướng ga Văn Điển đang chuẩn bị hạ cánh. Chiếc máy bay hạ thấp đến độ cao anh có thể nhìn thấy lá cờ mang biểu tượng ba con voi in trên đó. Nhưng máy bay không hạ cánh mà lại vọt lên. Sau khi chao cánh làm động tác xin hạ cánh bắt buộc, nó lượn một vòng rồi nhẹ nhàng đáp xuống đường băng, lăn bánh chậm dần rồi dừng lại. Thượng úy Khanh giơ tay ra hiệu cho máy bay vòng qua đường lăn quay lại điểm đỗ. Đó là một chiếc máy bay T28 do Mỹ sản xuất mang quốc hiệu Hoàng gia Lào khi đó. Người phi công đeo lon thiếu úy mở cửa bước xuống, tươi cười chào và giơ hai tay thân mật bắt tay ông Khanh. Đến lúc đó, đội ngũ thợ máy của xưởng ùa ra. Người phi công được mời vào xưởng, còn chiếc máy bay, ông Khanh phân công phân xưởng trưởng Đặng Đình Ninh chịu trách nhiệm kéo vào hăngga bảo quản. Sự việc ngay lập tức được Đại úy Trương Ngọc Bình, Chính ủy xưởng báo cáo lên lãnh đạo Cục Không quân khi đó đóng tại Gia Lâm và được đồng chíCục trưởng Đặng Tính báo lên Bộ Quốc phòng.

Khi đã vào nhà, Chính ủy Trương Ngọc Bình và phó xưởng trưởng Trần Ngọc Khanh tổ chức gặp gỡ người hàng binh ngay. Ngôn ngữ đầu tiên mà chủ và khách dùng để nói chuyện với nhau là tay chân và điệu bộ. Đến khi đồng chí Trương Hay bỗng nhớ ra và nói với ông Khanh trong xưởng có cậu Mạnh biết tiếng Lào. Thế là đồng chí Mạnh (người chuyên phụ trách các biển tên chức năng trên các máy bay của xưởng) được gọi lên làm phiên dịch. Cuộc nói chuyện lúc này trở nên dễ dàng hơn. Người phi công cho biết anh tên là Bun Khăm vốn là phi công gốc Thái Lan đang phục vụ cho quân đội Hoàng gia Lào. Do chán ghét chế độ thân Mỹ của chính phủ mà có ý định chạy sang đầu quân cho Việt Nam vì đã được nghe những điều tốt đẹp của Chính phủ Hồ Chí Minh. Dự định được anh nung nấu từ lâu nhưng chưa có cơ hội, hôm nay nhân chuyến bay chào mừng sinh nhật nhà vua, anh đã tách đội hình bay ra hướng biển rồi theo đường sắt mà bay đến Hà Nội. Hôm đó dự báo có bão lớn, các trạm ra đa của ta được lệnh thu hồi ăngten để đảm bảo an toàn nên không phát hiện ra chiếc T28 bay vào. Kể từ hôm đó, ngoài nhiệm vụ thường xuyên. Xưởng A33 còn có thêm một nhiệm vụ quan trọng là hằng ngày cắt cử anh em thợ máy canh gác cẩn mật chiếc máy bay này.

Quyết tâm biến thành vũ khí để đánh địch.

Ngày 22-10- 1963, Cục Không quân và Bộ Tư lệnh Phòng không được sáp nhập thành Quân chủng Phòng không - Không quân do đồng chí Phùng Thế Tài làm Tư lệnh, đồng chí Đặng Tính làm Chính ủy. Thời điểm này không quân ta chỉ có các máy bay vận tải LI-2, IL-14, AN-2 và máy bay huấn luyện IAK-18. Trước đó không quân ta cũng đã cải tiến, lắp vũ khí lên máy bay AN-2 để đánh các mục tiêu trên biển. Nay có T28, Quân chủng quyết định luyện tập để đánh mục tiêu trên không của địch.

Các thành phần được huy động tham gia nghiên cứu T28 tìm hiểu tính năng kỹ chiến thuật để có thể làm chủ máy bay. T28 là loại máy bay khu trục anh em kỹ thuật vẫn gọi một cách hài hước thành "dân dumục" dùng để ném bom mặt đất, dưới hai cánh có lắp hai giá để bom, trên máy bay có lắp thêm hai khẩu 121y7 chủ yếu dùng để tự vệ trên không. Những người thợ của xưởng A33 cùng hai cán bộ của phòng kỹ thuật quân chủng là Nguyễn Ngọc Tuấn, thợ cơ giới trên không và Lê Bá Phúc, tổ trưởng đặc thiết, có nhiệm vụ kiểm tra toàn bộ chiếc máy bay lạ. Thợ cơ giới tiến hànhkiểm tra bề ngoài, thân, cánh, bánh xe, càng... rồi đến kiểm tra động cơ. Tổ đặc thiết kiểm tra các thiết bị đặc chủng như đồng hồ, công tắc điện. Vì cấu tạo T28 gần giống như loại máy bay IL- 14 mà những người thợ kỹ thuật của xưởng đã quen làm nên việc kiểm tra cũng có thuận lợi hơn. Sau khi cho nổ máy thử vài lần, ông Đặng Đình Ninh và tổ kỹ thuật đã khẳng định máy bay hoạt động tốt. Sau đó, T28 được sơn màu khác, và mang phù hiệu Không quân Việt Nam là một ngôi sao đỏ in trong hình tròn vàng, hai bên có hai dải kéo dài màu xanh. Chiếc máy bay này cũng được đặt tên mới. Mọi người trong xưởng đều thống nhất đề nghị và được BộTư lệnh nhất trí tên gọi mới T28 là 963, tức là tháng 9-1963 là thời gian T28 đến với Việt Nam. Tiếp đó, ông Dương Niết và ông Nguyễn Lệ Quỳnh, trợ lý quân giới của phòng kỹ thuật máy bay tiến hành nghiên cứu hệ thống vũ khí lắp trên T28 mà cụ thể là về nguyên tắc hoạt động của hai khẩu 121y7. Các ông đã tháo rời từngbộ phận, nghiên cứu về quy trình làm việc từng chi tiết của súng, máy ngắm, hệ thống khí nén, hệ thống điện điều khiển, công tắc nạp đạn... Sau khi thử đi thử lại nhiều lần ở mặt đất đạt kết quả tốt, ông Dương Niết còn ngồi trên máy bay cùng phi công bay thử để kiểm tra quá trình hoạt động trên không của vũ khí.

Được sự nhất trí của trên, phi công Bun Khăm (lúcnày có tên Việt Nam là Sơn) được mời xuống hướng dẫn cho phi công ta bay. Quân chủng cử hai phi công là giáo viên bay của trường Không quân, Đoàn bay 910, là Nguyễn Văn Ba là Lê Tiến Phước tham gia học tập để có thể tiếp thu máy bay mới. Cả hai phi công NguyễnVăn Ba và Lê Tiến Phước đều học ở Trung Quốc về nhưng chưa hề được tiếp xúc với loại máy bay này nên phải học từng thao tác. T28 có hai chỗ ngồi, phi công Sơn ngồi trước điều khiển, phi công Nguyễn Văn Ba của ta ngồi sau quan sát thứ tự động tác để làm quen. Sau khi phi công ta đã tiếp cận và điều khiển được máy bay, cả tổ xuống sân bay Kiến An tập hàng tháng trời các động tác bắn, thao tác bay... Bộ Tư lệnh quyết định dùng máy bay của ta giả làm mục tiêu để cho 963 luyện tập. Ban đêm, một trong những máy bay vận tải cánh quạt LI-2 hoặc IL-14 của ta bay lên và bật hết đèn để 963 khi được dẫn đường đến gần, phi công sẽ tập tìm bằng mắt. Sau khi luyện tập bay đường dài thành thạo, đến nội dung tập tìm mục tiêu, rồi tập xạ kích; mô hình mục tiêu bằng cót ép đã được làm và đặt dưới mặt đất để 963 tập bắn.

Tuần trăng định mệnh và số phận những tênbiệt kích trên chiếc máy bay C123.

Đêm 15-2-1964, Bộ Tư lệnh Quân chủng nhậnđược tin có máy bay địch tốc độ chậm, bay thấp đang hoạt động. Lập tức tin này được báo xuống tổ trực chiến. Hệ thống quan sát của ta đã phát hiện máy bay địch bay dọc theo triền phía đông dãy Trường Sơn hướng lên Tây Bắc. 1 giờ 7 phút ngày 16-2, Tư lệnh Phùng Thế Tài lệnh cho 963 cất cánh từ sân bay Gia Lâm. Tổ bay rời mặt đất không dùng liên lạc vô tuyến điện, đến độ cao 500 mét báo về sở chỉ huy. Phi công Nguyễn Văn Ba lái chính, phi công Lê Tiến Phước lái phụ. Kíp dẫn đường tại sở chỉ huy gồm có Trần Quang Kính dẫn chính, Đào Ngọc Ngư dẫn phụ và một đồng chí ghi chép chỉ thị ra đa: Tại đài ra đa 402 có sĩ quan dẫn đường hiện sóng Nguyễn Văn Chuyên cùng một đài trưởng và các trắc thủ.

Sĩ quan dẫn đường liên tục thông báo cự ly giữa máy bay ta và máy bay địch: 30, 20, 15 rồi 5km. Độ cao của 963 được dần nâng lên, từ 1000m lên 1500m rồi 2000m. Khi ở độ cao 1200m, tổ bay nghe sở chỉ huy thông báo: "Quạ đen phía trước, lên phải 15 độ, cự ly 15km". Nguyễn Văn Ba tăng ga, cự ly ta và địch được rút gần lại. Khi 963 vào đến Thanh Hóa, sở chỉ huy cho kéo lên độ cao 2500m, đi qua Thạch Thành, Cẩm Thủy đến Hồi Xuân, La Hán tiếp cận mục tiêu ở phía Tây, cách máy bay địch khoảng 4 - 5km. Mọi điều kiện về thời tiết khí tượng đều đảm bảo. Cả sở chỉ huy nín thở chờ thông báo của tổ bay. Bây giờ có phát hiện mục tiêu hay không phụ thuộc hoàn toàn vào bốn con mắt của hai phi công trên 963 mà thôi. Cuối cùng thì "thằnggiặc" cũng hiện ra to bằng bàn tay, đen sẫm ở phía bên phải. Dưới ánh trăng lạnh và qua làn mây trắng xốp, chiếc C123 đang di chuyển. Trên máy bay 963, nhớ phương án đã luyện tập, lúc này phi công Nguyễn Văn Ba cho máy bay tăng tốc tiếp cận mục tiêu từ phía trên, đưa vòng ngắm vào động cơ bên phải máy bay địch. Cách khoảng 500m, hình thù máy bay địch đã hiện rõ, luồng lửa từ ống xả hai động cơ đỏ rực. Khi cự ly bắn chỉ khoảng 150m, cao hơn địch chừng chục mét nhìn chếch ở hướng khoảng 45 độ, chiếc C123 hiện ra sừng sững như một ngôi nhà, nó đã vào tầm ngắm của khẩu trọng liên. Nguyễn Văn Ba thông thoại nội bộ trao đổi với Lê Tiến Phước: "Bắn được chưa, Phước?" Lê Tiến Phước trả lời: "Được rồi đó, bình tĩnh nghe". Nguyễn Văn Ba ấn công tắc nạp đạn, chiếm vị trí công kích nhấn nút siết cò đạn bay tới tấp. Chiếc C123 trúng đạn, động cơ phải phụt lửa rồi lại tắt. Ngừng lại, rồi phóng thêm một loạt đạn nữa, chiếc C123 khổng lồ nghiêng về trái, động cơ lại phụt lửa nhưng vẫn không bốc cháy. Lúc này cự ly chỉ còn độ 100m. Bỗng chiếc C123 mở cửa đuôi, một khoảng đen hình vuông mở ra. Nguyễn Văn Ba nhìn thấy đèn đỏ ở cửa buồng lái, anh liền nhằm khoảng đen đó siết cò bắn tiếp loạt thứ 3. Chiếc C123 tròng trành bay về hướng Hồi Xuân, La Hán giáp biên giới Việt -Lào. Tổ bay 963 về sân bay hạ cánh an toàn. Như vậy là 3 loạt đạn, tổ bay đã bắn hết 190 viên. Với ba loạt đạn của ta, tổ bay tin chắc chiếc C123 không thể trở về nhưng xác của nó không được tìm thấy, 963 lại không có máy chụp hình khi bắn nên không biết lấy gì làm bằng chứng.

Sau đó ít lâu ta bắt được một tù binh của địch. Khi tiến hành điều tra xét hỏi, hắn đã khai là một trong những thành viên tổ lái chiếc máy bay C123 đột nhập bằng đường không hồi tháng 2-1964 nhưng chưa kịp thả biệt kích thì máy bay bị trúng đạn rơi xuống sát biêngiới Việt - Lào. Toàn bộ toán biệt kích trên máy bay đã thiệt mạng, phi hành đoàn chỉ có 2 tên sống sót. Hắn là một trong hai tên được hưởng sự may mắn đó. Đến lúc này thành tích của 963 mới được ghi nhận. Năm 1966 hai phi công Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước đã được tặng Huân chương chiến công hạng Ba do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Đến năm 1995, phi công Nguyễn Văn Ba (lúc này là người của Hàng không dân dụng) cùng với những thành tích khác trong quá trình công tác đã đượcNhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tâm sự của những người trong cuộc.

Đa số những người tham gia trận đánh của 963 đều gắn bó trong Quân chủng Phòng không - Không quân với chuyên môn của mình. Một số đồng chí chuyển ngành sang Hàng không khi đoàn bay 919 được tách ra để thành lập ngành Hàng không dân dụng như phi công Nguyễn Văn Ba; có người sau này đã trở thành chỉ huy trung đoàn bay chiến đấu của không quân như phi công Lê Tiến Phước; sĩ quan dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên những năm sau đã trở thành người dẫn đường "cao thủ” của Không quân Việt Nam với kỳ tích tham gia dẫn bay cho 109 trận đánh, phó xưởng trưởng Trần Ngọc Khanh sau này là giám đốc một xưởng sửa chữa máy bay lớn của Quân đội ở phía Nam. Hiện nay họ đều đã nghỉ hưu và sinh sống ở nhiều vùng khác nhau của đất nước. Phi công Nguyễn Văn Ba đã mất năm 1996. Người dẫn đường chính Trần Quang Kính cũng mất năm 2002; xưởng trưởng Lê Minh và Chính ủy xưởng A33 TrươngTrọng Bình cũng đều đã mất. Phi công Lê Tiến Phước hiện sống tại phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Sĩ quan dẫn đường hiện sống, người con đất Bình Định tập kết ra Bắc, Nguyễn Văn Chuyên và Phó xưởng trưởng A33 Trần Trọng Khanh thì ở lại Hà Nội, dẫn đường phụ sở chỉ huy Đào Ngọc Ngư thì sống một cuộc sống không mấy sung túc tại xã Ngũ Lão, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Họ cũng không có dịp gặp nhau để ôn lại chuyện cũ.

Về phi công Bun Khăm anh còn ở lại nước ta nhiều năm sau đó, khi cách mạng Lào thành công anh mới trở về Lào phục vụ chính phủ mới. Hiện nay không biết tin tức gì về anh. Trong câu chuyện với chúng tôi, ông TrầnNgọc Khanh rất mong gặp lại phi công Bun Khăm người bạn Lào đã mang đến chiếc máy bay 963 "tặng" cho Việt Nam để không quân ta lập công đầu. Nếu còn sống có lẽ ông cũng xấp xỉ bảy mươi tuổi.

Hôm nay, hơn năm mươi năm đã trôi qua, ông Khanh vẫn còn nhớ rất rõ hình ảnh người phi công trẻ tuổi với nụ cười thân thiện khi mở cửa buồng lái bước những bước đầu tiên xuống sân bay Bạch Mai. ông Khanh rất mong thông qua Hội cựu chiến binh Lào để biết thêm thông tin về người phi công có nhiều thiện cảm với Chính phủ Việt Nam năm ấy. Qua báo An ninh thế giới mong rằng nguyện vọng của ông Khanh sẽ được thực hiện.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn