Chiếc nồi gang và chuyện về gia đình có 6 Bà mẹ VNAH
(Baonghean.vn) - Trong khu vực trưng bày kỷ vật của các bà mẹ VNAH tại Bảo tàng QK4 có một chiếc nồi gang vẫn sáng...
(Baonghean.vn) - Trong khu vực trưng bày kỷ vật của các bà mẹ VNAH tại Bảo tàng QK4 có một chiếc nồi gang vẫn sáng màu qua năm tháng. Nằm im lìm, giản dị sau ô kính, nhưng câu chuyện về chiếc nồi gang và chủ nhân của nó do anh cán bộ Bảo tàng kể thực sự đã thu hút mọi khách tham quan.
Chiếc nồi này là kỷ vật duy nhất mà Bà mẹ VNAH Trần Thị Đỉnh (quê Phú Vang, Thừa Thiên - Huế) còn để lại. Chiếc nồi đã được ông Vương Hưng Mầu, người con trai duy nhất trong 6 người con của mẹ Trần Thị Đỉnh còn sống trao tặng lại cho Bảo tàng. Chiếc nồi ấy đã gắn bó với những tảo tần của mẹ Đỉnh. 6 người con đã lớn lên bằng những hạt cơm, củ sắn, cùng tham gia cách mạng và 5 người vĩnh viễn không về.(Baonghean.vn) - Trong khu vực trưng bày kỷ vật của các bà mẹ VNAH tại Bảo tàng QK4 có một chiếc nồi gang vẫn sáng...
(Baonghean.vn) - Trong khu vực trưng bày kỷ vật của các bà mẹ VNAH tại Bảo tàng QK4 có một chiếc nồi gang vẫn sáng màu qua năm tháng. Nằm im lìm, giản dị sau ô kính, nhưng câu chuyện về chiếc nồi gang và chủ nhân của nó do anh cán bộ Bảo tàng kể thực sự đã thu hút mọi khách tham quan.
Chiếc nồi này là kỷ vật duy nhất mà Bà mẹ VNAH Trần Thị Đỉnh (quê Phú Vang, Thừa Thiên - Huế) còn để lại. Chiếc nồi đã được ông Vương Hưng Mầu, người con trai duy nhất trong 6 người con của mẹ Trần Thị Đỉnh còn sống trao tặng lại cho Bảo tàng. Chiếc nồi ấy đã gắn bó với những tảo tần của mẹ Đỉnh. 6 người con đã lớn lên bằng những hạt cơm, củ sắn, cùng tham gia cách mạng và 5 người vĩnh viễn không về.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng Vương Thị Lành (người con gái thứ 2 của mẹ Đỉnh) cũng là một đảng viên kiên cường, hy sinh năm 1973 do bị đòn thù tra khảo. Năm 1955 khi ở lại hoạt động trong vùng kiểm soát gắt gao của địch bà vẫn bí mật cùng một số đồng chí thành lập cơ sở đảng để hướng dẫn quần chúng đấu tranh với hành động tổ cộng, diệt cộng điên cuồng của địch, để che dấu, bảo vệ cơ sở kháng chiến. Nhà bà Lành là nơi có hầm bí mật đầu tiên che giấu cán bộ cấp trên về phát triển cơ sở kháng chiến ở Phú Đa, chuẩn bị cho phong trào đồng khởi ở Phú Vang. Từ đó cơ sở đảng được nhân rộng khắp vùng. Năm 1967 bà bị địch bắt do một tên phản bội khai báo, sau đó bà bị địch đầy ra Côn Đảo giam cầm đầy đoạ cho đến kiệt sức. Hai người con của bà được bố trí vào lực lượng biệt động nội thành dưới vỏ bọc là thợ may và đã hy sinh trong chiến đấu. Cô con gái là Châu Thị Soa, cán bộ phụ nữ bí mật của xã, thay mẹ liên lạc, bảo vệ cán bộ nằm vùng. Phát hiện vai trò quan trọng của chị Soa, địch bắt tra tấn và giết hại. Như vậy, cả gia đình 5 người của mẹ anh hùng Vương Thị Lành đều hy sinh cho kháng chiến.
Bà Vương Thị Phi (em chồng mẹ Đỉnh) là Mẹ Việt Nam anh hùng, có 8 liệt sĩ (3 người con, 1 cháu rể và 4 cháu ruột). Bà Trần Thị Lùng (con gái bà Vương Thị Phi) là Mẹ Việt Nam anh hùng, cơ sở nuôi giấu cán bộ, có chồng và 2 con hy sinh. Đặc biệt cô con gái của mẹ Lùng là một chiến sĩ cực kỳ gan dạ và bất khuất. Trong một trận chống địch càn quét ở Phú Lương, Phú Vang, chị đã dũng cảm một mình chống lại quân bộ và trực thăng địch cho đến khi hết đạn. Địch đổ quân vây bắt, chị dùng báng súng chống trả quyết liệt và anh dũng hy sinh.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng Phan Thị Vũ (con dâu của mẹ Đỉnh) cũng là một cơ sở nuôi giấu cán bộ, hết lòng vì chồng con trong cuộc chiến đấu chống giặc. Chồng hy sinh năm trước thì năm sau 3 người con trai của bà công tác ở Huyện uỷ Huyện đoàn Phú Vang đã hy sinh trên đường công tác.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng Phạm Thị Thể (con dâu của mẹ Đỉnh) về nhà chồng chưa đầy một năm, thì chồng là ông Vương Hưng Mầu, theo tiếng gọi của Tổ quốc gia nhập đoàn quân Nam tiến. Ông chiến đấu và làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Cục Miền Nam rồi tập kết ra Bắc công tác cho đến năm 1968 trở lại miền Nam chiến đấu mới gặp lại bà ở căn cứ Thừa Thiên - Huế sau 24 năm xa cách. Xa chồng, theo gương gia đình, bà tham gia hoạt động phụ nữ xã, rồi liên xã. Khi cháu Vương Thị Sen, đứa con gái duy nhất của ông bà tròn 4 tuổi, bà phải ngậm ngùi gạt nước mắt giao con cho bà nội để rút vào hoạt động bí mật. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết chưa ráo mực, bọn Mỹ-ngụy đã phá hoại hiệp định, ra sức truy lùng, bắt bớ cán bộ kháng chiến. Bà phải rời địa phương lên miền núi và được giao nhiệm vụ liên lạc, móc nối cán bộ, đảng viên phải sơ tán đi các nơi nhằm xây dựng lại tổ chức. Năm 1957 trong một chuyến công tác về đồng bằngphát triển cơ sở, bà bị địch bắt vào nhà lao Thừa Phủ. Dù bị cực hình tra tấn song bà không chịu khuất phục chúng. Diệm, Nhu bị giết, bà được địch thả ra và phải chuyển về miền núi Phong Điền hoạt động cho đến ngày gặp lại ông, và tham gia công tác công an cho đến khi nghỉ hưu. Theo gương gia đình, cháu Vương Thị Sen lớn lên tham gia du kích rồi được làm y tá, cháu đã hy sinh trên đường đi cấp cứu thương binh khi vừa tròn 20 tuổi, còn bà Thể nhận được tin con hy sinh sau 16 năm trời mẹ con ly biệt.


