CHIẾC NÓN KHÔNG CHỈ ĐỂ CHE NẮNG
Ở làng Phú Mỹ, ai cũng biết đến bà Nguyễn Thị Lành – người phụ nữ cả đời gắn bó với nghề chằm nón. Đôi bàn tay bà gầy guộc nhưng khéo léo. Chỉ cần nhìn qua một vành tre, bà đã biết phải vót dày hay mỏng, chỉ cần sờ vào từng tàu lá, bà biết chiếc lá nào đủ già để làm nên một chiếc nón bền.
Trước chiến tranh, nón của bà theo những phiên chợ đi khắp vùng. Người mua khen nón nhẹ, đều và đội nhiều năm vẫn không bung vành.
Khi chiến tranh lan đến, nhiều người nghĩ nghề chằm nón sẽ dần mai một.
Nhưng với bà Lành, mỗi chiếc nón lúc ấy lại mang một ý nghĩa khác.
Một buổi chiều, cô giáo của lớp học sơ tán đến nhà bà. Cô mang theo vài chiếc nón đã rách, vành gãy, lá thủng vì mưa nắng.
Cô ái ngại nói:
"Trẻ con đi học xa, nắng mưa đều đội những chiếc nón này. Chúng tôi không có nón mới để thay."
Bà Lành lặng lẽ cầm từng chiếc lên.
Có chiếc đã cũ đến mức tưởng chỉ còn bỏ đi.
Nhưng bà không bỏ.
Bà tháo từng vành tre, thay từng sợi cước, vá lại từng lớp lá.
Ba ngày sau, những chiếc nón lại trắng tinh như vừa mới chằm.
Bà không lấy tiền.
Bà chỉ nhắn cô giáo:
"Nếu có chiếc nào hỏng nữa, cứ mang đến."
Từ đó, căn nhà nhỏ của bà lúc nào cũng đầy những chiếc nón cũ.
Có chiếc của học sinh.
Có chiếc của các mẹ gánh gạo.
Có chiếc của các chị dân công hỏa tuyến.
Bà không hỏi của ai.
Bà chỉ cặm cụi vá.
Một lần, một cô thanh niên xung phong ghé qua.
Cô xin bà chằm giúp một chiếc nón thật rộng.
Bà ngạc nhiên:
"Đội rộng thế có nặng không?"
Cô cười:
"Để khi nghỉ dọc đường còn che cho hai đứa nhỏ sơ tán ngủ dưới nắng."
Bà không nói gì.
Đêm ấy, bà chọn những tàu lá đẹp nhất, đan thêm một lớp lót bên trong để nón vừa nhẹ vừa mát.
Trước khi trao chiếc nón, bà còn khâu kín bên trong một mảnh vải nhỏ.
Trên đó chỉ thêu bốn chữ:
"Đi về bình an."
Nhiều năm sau, cô gái ấy trở lại.
Chiếc nón đã ngả màu, vành tre mòn đi vì thời gian.
Nhưng bốn chữ thêu vẫn còn nguyên.
Cô nghẹn ngào kể:
"Chiếc nón này từng che mưa cho thương binh, che nắng cho trẻ nhỏ, có lần còn dùng để hứng nước suối cho đồng đội."
Bà Lành cầm chiếc nón rất lâu.
Bà không nhận ra những đường kim của mình nữa.
Chỉ nhận ra chiếc nón đã đi qua một chặng đường dài hơn tất cả những gì bà từng nghĩ.
Sau ngày đất nước thống nhất, người dân mua nhiều nón nhựa, rồi mũ vải.
Nghề chằm nón dần thưa khách.
Nhưng bà Lành vẫn giữ lại chiếc khuôn nón cũ.
Ngày bà mất, con cháu dọn căn nhà nhỏ.
Trong chiếc rương tre, họ tìm thấy hàng chục mảnh vải nhỏ đã được cắt sẵn.
Mỗi mảnh đều thêu cùng một dòng chữ:
"Đi về bình an."
Hóa ra, suốt những năm chiến tranh, bà đã lặng lẽ khâu những lời chúc ấy vào mặt trong của nhiều chiếc nón.
Không ai biết.
Cũng chẳng ai nhìn thấy.
Cho đến khi những chiếc nón cũ được mở ra sau hàng chục năm.
Ngày nay, một chiếc nón của bà được trưng bày trong nhà truyền thống của địa phương.
Người ta không chỉ ngắm những đường kim đều tăm tắp hay vành tre tròn trịa.
Người ta cúi xuống, nhìn vào mặt trong của chiếc nón.
Ở đó vẫn còn nguyên bốn chữ nhỏ đã phai màu theo năm tháng:
"Đi về bình an."
Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, bà Lành không cầm súng, không ra trận, cũng không lập nên những chiến công hiển hách. Nhưng bằng đôi bàn tay của một người thợ chằm nón, bà đã gửi theo mỗi chiếc nón một lời cầu chúc bình dị nhất dành cho những người bước vào gian khó.
Có những mái nón che mưa, che nắng.
Và cũng có những chiếc nón lặng lẽ chở theo niềm tin, hy vọng và tình người, đồng hành cùng bao bước chân đi qua thời hoa lửa để trở về với ngày hòa bình.



