Chiếc tàu chiến Pháp và ký ức của người cựu chiến binh Sông Lô
Các chiến sỹ Lữ đoàn PPK 297, Quân khu 2, nghe kể về trận đánh bên cạnh chiếc tàu chiến Pháp bị quân và dân ta bắn chìm trên dòng sông Lô tại Đoan Hùng ngày 24/10/1947.
PTĐT- Vào một ngày cuối năm 2014, ngoài trời rất lạnh bởi có đợt gió mùa mới tràn về, đoàn cựu chiến binh (CCB) của phường Minh Nông, thành phố Việt Trì đến tham quan Bảo tàng Quân khu 2 đã di chuyển đội hình sang vị trí khác theo hướng dẫn viên. Nhưng tại vị trí xác chiếc tàu chiến của Pháp, tôi nhìn thấy vẫn còn một CCB tóc bạc trắng, chăm chú nhìn những vết đạn xuyên thủng tàu, đứng trầm ngâm suy tư.
Hỏi thăm tôi được biết ông là Phan Văn Đức, CCB thuộc phường Minh Nông, thành phố Việt Trì. Sinh năm 1928, năm 1946 ông nhập ngũ, được biên chế làm liên lạc cho trung đội pháo binh ở pháo đài Xuân Canh, Hà Nội. Đây là một trong những đơn vị đầu tiên của quân đội ta nổ súng ngay sau hiệu lệnh cho toàn quốc kháng chiến, sau ngày đó đơn vị pháo của ông được lệnh rút lên chiến khu để thực hiện “ trường kỳ kháng chiến” vừa hành quân, vừa chiến đấu dọc đường. Giữa năm 1947 đơn vị ông có mặt tại Đoan Hùng và được lệnh dừng tại đây, lúc này ông trở thành pháo thủ.
Ký ức ngày đó lại tràn về trong ông, năm 1946 ông còn rất trẻ, tình nguyện tham gia quân đội, được biên chế trong trung đội Pháo binh, hầu hết cả trung đội ông trước khi nhập ngũ là những người nông dân mặc áo lính có ai biết gì về súng với pháo đâu, thế mà lại được quân đội tin tưởng giao cho một tài sản vô cùng quý giá lúc bấy giờ. Mừng thì mừng thật, nhưng ai nấy đều rất lo vì để sử dụng pháo thành thạo là cả một quá trình gian khổ. Đó là loại cao pháo do Pháp sản xuất vào những năm cuối 1930, đầu 1940 dùng để bắn các mục tiêu trên không, được Pháp đưa sang Việt Nam bố trí tại Pháo Đài Láng (Hà Nội). Sau cách mạng tháng 8/1945 ta thu được và cải hoán thành pháo bắn được các mục tiêu mặt đất, mặt nước, khẩu pháo này có kính ngắm bắn, nhưng cả trung đội không ai biết sử dụng. Sau một thời gian khổ luyện, ai nấy đều thuần thục các động tác tại vị trí pháo thủ của mình.
Ấy thế mà sau khi quân Pháp nổ súng mở màn cuộc tiến công lên Việt Bắc ngày 11/10/1947, đoàn tàu chiến của Pháp ngược dòng sông Lô đến khu vực huyện lỵ Đoan Hùng, khẩu pháo của ta lúc này đặt tại Gò Chỉ của Làng Ngọc Chúc, xã Chí Đám (cách mục tiêu khoảng 2,5km đường chim bay) có bắn mấy phát nhưng không một viên nào trúng mục tiêu, thậm chí đạn còn bay qua sông sang làng bên thuộc xã Hữu Đô. Đêm đó cả đơn vị không ai ngủ được, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để bắn trúng tàu Pháp?... Lệnh trên truyền xuống: Quân Pháp sắp tổ chức một đoàn tàu chiến theo dòng sông Lô qua Đoan Hùng về Hà Nội để xin tiếp viện, đơn vị ông có nhiệm vụ phối hợp với các lực lượng khác, tổ chức một trận địa phục kích trên dòng sông Lô nhằm đánh tiêu hao, tiêu diệt quân địch, góp phần làm thất bại cuộc tiến công của quân Pháp.
Phương án chiến đấu đã được thông qua, toàn đơn vị cùng dân quân địa phương tích cực chuẩn bị, 9km đường hào dọc bờ sông, hầm cho pháo, hố bắn cá nhân, hầm trú ẩn được đào và ngụy trang khéo léo, các trận địa nghi binh được xây dựng hoàn chỉnh... Toàn trận địa phục kích sẵn sàng chờ quân địch. Trời Đoan Hùng đêm ấy se lạnh, từng làn gió nhẹ thổi từ mặt sông vào bờ, khiến cho các bụi lau kêu xào xạc, dòng nước êm đềm, lặng lẽ chảy dưới màn sương. Chỉ huy trận đánh là đồng chí Doãn Tuế, Sở chỉ huy trận đánh được đặt trên đồi nhỏ thuộc làng Ngọc Chúc, cách không xa trận địa phục kích, đồng chí Vũ Hiển, Tham mưu trưởng quân khu và đồng chí Phạm Đức Hóa - Tham mưu phó quân khu trực tiếp chỉ đạo trận đánh.
Sáng 24 tháng 10 năm 1947, thời gian trôi qua lặng lẽ, 7 giờ, 8 giờ, rồi 9 giờ… dòng nước sông Lô vẫn êm đềm chảy, mặt nước mênh mông. Đến 11 giờ 45 phút, bộ đội ta chờ quá lâu, bụng đói, đồng chí chỉ huy ra lệnh bộ đội ăn cơm ngay tại trận địa, cơm nắm ăn với muối vừng, lại có thêm miếng thịt lợn kho do bàn tay nhân dân Đoan Hùng chuẩn bị. Cơm ăn đang ngon miệng thì bỗng thấy trên trời 6 chiếc máy bay địch ầm ầm bay tới. Cùng lúc này Ban chỉ huy trận đánh cũng nhận được tin tàu địch cách trận địa ta 3km. Lệnh chuẩn bị chiến đấu được phát ra, tất cả vào vị trí sẵn sàng. Một chiếc máy bay bay sát mặt sông, đến phủ lỵ Đoan Hùng, vòng lượn ngó nghiêng, tiếp theo 4 chiếc khu trục cũng tham gia quần lượn, nhiều chiến sỹ ta muốn bắn, song nhớ tới mệnh lệnh lại phải nén lòng chờ đợi.
Sau một hồi nhòm ngó, không phát hiện được gì, chúng bắn vu vơ vài loạt đạn trọng liên rồi cả đoàn bay về phía Nam. Chiếc đi đầu vừa đi, vừa thăm dò mặt nước, hai chiếc sau đi song hành, một sơn xanh, một sơn màu xám. Đi sau cùng là chiếc loại nhẹ. Cả 5 chiếc tàu chở trên 300 tên hùng hổ tiến vào trận địa phục kích của ta. Chiếc tàu thứ nhất kiểu LCM đến cách khẩu 75 ly cao xạ pháo khoảng 1.000m, nhiều chiến sỹ muốn bắn ngay, nhưng quan đánh đặt gần bắn thẳng đã được quán triệt kỹ, phải chờ tàu địch đến gần hơn nữa, 800m, 600m rồi 300m, lệnh bắn được phát ra, 3 viên đạn pháo của ta nổ trùm lên con tàu. Viên thứ 4 trúng giữa tàu khiến cho nó quay ngang và chìm ngay tại chỗ, dìm tất cả bọn giặc ở trên tàu xuống sông, tiếng reo hò chiến thắng, tiếng trống, chiêng, thanh la, kẻng… vang lên khắp mọi nơi.
Bị đánh mạnh, bất ngờ, ngay từ phút đầu bọn địch vô cùng hốt hoảng, bối rối không kịp trở tay, đội hình rối loạn. Thấy đồng bọn dưới sông bị đánh, 3 chiếc máy bay khu trục và 1 chiếc máy bay “bà già” bay trở lại tiếp ứng, chiếc Michel cũng bay lượn trên trận địa phục kích của ta, chúng ném bom, bắn phá dữ dội hòng cứu nguy cho đồng bọn, song hầu hết bom đạn của địch đều đánh vào các trận địa nghi binh của ta ở hai bên bờ sông.
Dưới sự chỉ huy của Trung đội phó Trần Thái Quang, Tiểu đội trưởng Nguyễn Trọng Dần vẫn bình tĩnh ngắm bắn từng viên đạn pháo vào chiếc tàu thứ 2, sau 6 phát đạn liên tiếp, có 1 viên trúng buồng chứa đạn, một tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả trận địa, tiếp theo là những tiếng nổ lốp bốp của các loại đạn cỡ nhỏ kèm theo những tiếng nổ to đanh của đạn cối. Xăng trên tàu bén lửa bốc cháy, xăng loang ra mặt khắp sông, vết loang đến đâu, ngọn lửa cháy đến đó, cả một khúc sông thành biển lửa, máu giặc nhuộm đỏ nước sông quyện vào xăng đang bốc cháy, khói bốc lên có mùi khét lẹt. Quân Pháp ở ba chiếc tàu còn lại nhốn nháo trên boong, dùng súng cối, trung liên bắn trả lại quân ta một cách yếu ớt.
Trong lúc hỗn loạn chiếc tàu đi sau cùng hoảng sợ quay đầu chạy ngược lên phía Tuyên Quang. Trên trời máy bay địch vẫn tiếp tục điên cuồng đánh phá vào những nơi nghi có quân ta. Hỏa lực của ta đang tập trung tiêu diệt chiếc thứ 3, chiếc này đang tìm cách cố thoát ra khỏi lưới lửa chạy về xuôi, bỏ mặc hàng trăm tên giặc đang ngoi ngóp dưới sông, một viên đạn pháo trúng máy tàu, làm cho máy nổ tắt lịm, tàu trôi bồng bềnh trên sông. Bọn địch trên tàu hốt hoảng nhảy bừa xuống sông bơi vào bờ Hữu Đô. Hỏa lực các loại của ta bắn theo dữ dội, nhiều tên trúng đạn bị chìm nghỉm, tên bị thương chới với kêu khóc. Chiếc tàu thứ 4 còn lại lợi dụng khói lửa chạy thục mạng về xuôi, một viên đạn cao pháo nổ trúng bánh lái, phần đuôi tàu bị bẹp rúm, làm cho đầu tàu đâm ngang cả vào mũi pháo của ta, bốn viên đạn pháo nữa liên tiếp trúng tàu địch, song thật đáng tiếc cả bốn viên này đều bị ẩm, không nổ. Lợi dụng thời cơ, chiếc tàu thứ ba và thứ tư dìu nhau dạt vào làng Hữu Đô, chúng bố trí một khẩu 12,7 ly tại chỗ bắn thẳng sang trận địa của ta. Lúc này máy bay địch đã phát hiện được trận địa thật của ta và sà xuống bắn phá dữ dội, một số chiến sỹ ta bị thương. Mặc dù bị thương vào cánh tay, máu loang ra cả ngực, song trung đội phó Trần Thái Quang vẫn bình tĩnh lấy băng tự băng bó, đứng thẳng người tiếp tục chỉ huy chiến đấu.
Với quyết tâm không để cho tàu địch chạy thoát, tại trận địa khẩu Sơn pháo trung đội trưởng Lê Văn Oanh cùng 7 chiến sỹ kéo pháo đuổi theo tàu địch, đến vị trí tương đối thuận lợi, trung đội trưởng lệnh triển khai pháo ngay trên mặt đường để bắn, khi bắn được một phát, khẩu pháo nẩy lên lao xuống hố nước cạnh đó, các chiến sỹ ta lại phải hì hục du, đẩy pháo lên để tiếp tục chiến đấu. Lúc này trời đã bắt đầu tối, mục tiêu mờ dần đến 19 giờ cùng ngày trận đánh kết thúc, quân ta đại thắng, tiếng reo hò vang dội khắp đồi núi Đoan Hùng, tin thắng trận được truyền đi mọi nơi. Kết quả, hai chiếc tàu địch bị bắn chìm tại chỗ, hai chiếc khác và một máy bay bị thương nặng, gần ba trăm tên địch bị tiêu diệt, trong đó có một tên sĩ quan cao cấp của quân Pháp.
Chiến thắng Sông Lô tại Đoan Hùng đã làm nức lòng quân dân cả nước, động viên, cổ vũ mọi người hăng hái tham gia kháng chiến, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.
LÊ QUANG TƯỚC



