Chiếc túi lưới tiếp tế lương thực cho Bác Hồ
Chiếc túi lưới tiếp tế lương thực cho Bác HồChiếc túi lưới đan bằng sợi gai, đã cũ, bị đứt, rách hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Hậu cần đã từng được bà Hoàng Thị Sò dùng đựng gạo, măng, rau, thực phẩm mang vào hang Cốc Bó để biếu Bác Hồ, góp phần bảo đảm sức khỏe trong những ngày đầu Bác mới từ nước ngoài về nước lãnh đạo cách mạng.
Bà Hoàng Thị Sò sinh năm 1915, dân tộc Nùng, người được các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm giác ngộ cách mạng, là một trong những người dân ở Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) thường mang đồ tiếp tế cho Bác.
Chiếc túi lưới được bà Hoàng Thị Sò dùng tiếp tế lương thực cho Bác Hồ. Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Ngày 28 tháng 1 năm 1941 (tức mồng 2 Tết Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Cao Bằng. Người được đưa về ở nhà ông Máy Lỳ (còn gọi là ông Lý Quốc Sáng) – một cơ sở cách mạng trong khu vực Pắc Bó. Bác ở nhà ông Máy Lỳ hơn một tuần, đến ngày 08/02/1941, Bác cùng một số cán bộ chuyển lên hang Cốc Bó thuộc khu vực đầu nguồn. Ở đây một thời gian, Bác lại chuyển lên hang Lũng Lạn cách hang Cốc Bó chừng 200m. Đến cuối tháng 3 năm 1941, Người lại chuyển lên ở và làm việc tại lán Khuổi Nậm. Những ngày hoạt động ở Pắc Bó, Bác đã mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cho phong trào Việt Minh. Người trực tiếp giảng dạy, huấn luyện cán bộ về mục đích, điều lệ của Mặt trận, về cách thức tổ chức các hội, tuyên truyền, vận động quần chúng. Mặc dù các lớp học chỉ tổ chức trong thời gian ngắn, thường học vào ban đêm nhưng số lượng tham gia ngày càng đông. Chỉ trong năm 1941, tại Pắc Bó đã có 6 lớp huấn luyện với trên 120 học viên. Từ đó phong trào Việt Minh ngày càng lan rộng. Từ tháng 2 đến tháng 6/1941 ở Hòa An, Quảng Hà, Nguyên Bình thu hút gần 2000 người thuộc nhiều tổ chức, thành phần, dân tộc, lứa tuổi tham gia. Đặc biệt, từ ngày 10 đến 19/5/1941, ở lán Khuổi Nậm, Pắc Bó, Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 với sự tham gia của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Vũ Oanh, Phùng Chí Kiên, Bùi San, Hồ Xuân Lưu… Hội nghị đã nêu cao ngọn cờ dân tộc, đề ra chủ trương vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân đánh đuổi Pháp, Nhật giành độc lập cho dân tộc; quyết định duy trì, phát triển căn cứ địa du kích Bắc Sơn - Võ Nhai; củng cố và mở rộng căn cứ địa Cao Bằng, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân thời điểm đó. Ngày 06/6/1941, cũng tại Pắc Bó, Bác Hồ lấy tên là Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư cho toàn thể đồng bào trong cả nước kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia Mặt trận Việt Minh. Người cho xuất bản báo Việt Nam độc lập gọi tắt là Việt Lập để tuyên truyền vận động quần chúng, đưa đường lối, chính sách của Mặt trận Việt Minh đến với mọi người dân; giáo dục, giác ngộ họ làm cách mạng. Người cũng biên soạn nhiều cuốn sách như: “Con đường giải phóng”, “Lịch sử nước ta”, “Mười điều Việt Minh”, “Địa dư Bắc Kỳ”…, sáng tác nhiều thơ ca nhằm giáo dục quần chúng tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết, đấu tranh bất khuất của dân tộc. Những ngày hoạt động ở Pắc Bó, cuộc sống của Bác vô cùng đạm bạc và kham khổ. Hang Cốc Bó - nơi Bác ở rộng khoảng 15m2, sâu chừng 5m tính từ cửa hang. Trong hang, Bác chỉ kê một tấm phản gỗ đơn sơ, mộc mạc của bà con người dân tộc Tày làm tặng, lương thực chủ yếu là cháo ngô và rau rừng. Những ngày sống và hoạt động ở đây, Bác thường mặc bộ quần áo của đồng bào dân tộc Nùng bạc màu, chiếc mũ vải và đôi hài bằng lá mo. Bác thường đến thăm, gặp gỡ, trò chuyện với đồng bào các dân tộc ở Pắc Bó, giải thích cho họ hiểu nguyên nhân của sự khổ cực, động viên, hướng dẫn họ tham gia mặt trận Việt Minh, tổ chức các hội yêu nước. Hình ảnh “Ông Ké”, “Già Thu”, “Đồng chí Già” đã trở nên thân thiết, gần gũi in đậm trong lòng người dân Pắc Bó những ngày đầu cách mạng khi Bác mới về nước. Vào năm 1940 - 1941, đời sống của những người dân ở Pắc Bó vô cùng cực khổ, lương thực chủ yếu chỉ là ngô. Nhiều gia đình thiếu đói, vào ngày giáp hạt phải vào rừng đào củ mài để kiếm sống qua ngày. Có những gia đình bốn đời truyền nhau một tấm áo chàm, miếng vá nọ chồng lên miếng vá kia, đến nỗi khi nhìn vào không còn nhận ra đâu là miếng vải may từ lúc đầu tiên. Tuy nhiên, tình cảm của những người dân Pắc Bó đối với Bác rất gần gũi và thân thiết. Để bảo đảm giữ bí mật cho Bác, Trung ương quy định chỉ một số quần chúng cách mạng mới được đến chỗ Bác ở, ông Hoàng Văn Lộc được phân công phục vụ riêng. Thời gian này, do điều kiện ăn uống và sinh hoạt rất kham khổ, sức khỏe của Bác sa sút nhiều. Biết được điều đó, bà Hoàng Thị Sò đã tìm mọi cách để tiếp tế thêm chút thức ăn đem vào nơi Bác ở để bảo đảm sức khỏe cho Người. Mỗi lần đi bà lại sử dụng chiếc túi lưới này để đựng thức ăn. Chiếc túi lưới không những là minh chứng cho những tình cảm của người dân Cao Bằng đối với Bác Hồ mà còn thể hiện công tác hậu cần trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn gặp rất nhiều khó khăn phải dựa vào nhân dân là chính. Hơn 70 năm đã trôi qua, chiếc túi lưới đã bị rách nhiều chỗ bởi thời gian, nhưng đó là một trong những kỷ vật minh chứng cho tình cảm thiêng liêng của những người dân Pắc Bó đối với Bác Hồ - vị Lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của dân tộc.Phạm Hà/ Bảo tàng Hậu cần QĐND Việt Nam
Chiếc túi lưới được bà Hoàng Thị Sò dùng tiếp tế lương thực cho Bác Hồ. Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Ngày 28 tháng 1 năm 1941 (tức mồng 2 Tết Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Cao Bằng. Người được đưa về ở nhà ông Máy Lỳ (còn gọi là ông Lý Quốc Sáng) – một cơ sở cách mạng trong khu vực Pắc Bó. Bác ở nhà ông Máy Lỳ hơn một tuần, đến ngày 08/02/1941, Bác cùng một số cán bộ chuyển lên hang Cốc Bó thuộc khu vực đầu nguồn. Ở đây một thời gian, Bác lại chuyển lên hang Lũng Lạn cách hang Cốc Bó chừng 200m. Đến cuối tháng 3 năm 1941, Người lại chuyển lên ở và làm việc tại lán Khuổi Nậm. Những ngày hoạt động ở Pắc Bó, Bác đã mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cho phong trào Việt Minh. Người trực tiếp giảng dạy, huấn luyện cán bộ về mục đích, điều lệ của Mặt trận, về cách thức tổ chức các hội, tuyên truyền, vận động quần chúng. Mặc dù các lớp học chỉ tổ chức trong thời gian ngắn, thường học vào ban đêm nhưng số lượng tham gia ngày càng đông. Chỉ trong năm 1941, tại Pắc Bó đã có 6 lớp huấn luyện với trên 120 học viên. Từ đó phong trào Việt Minh ngày càng lan rộng. Từ tháng 2 đến tháng 6/1941 ở Hòa An, Quảng Hà, Nguyên Bình thu hút gần 2000 người thuộc nhiều tổ chức, thành phần, dân tộc, lứa tuổi tham gia. Đặc biệt, từ ngày 10 đến 19/5/1941, ở lán Khuổi Nậm, Pắc Bó, Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 với sự tham gia của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Vũ Oanh, Phùng Chí Kiên, Bùi San, Hồ Xuân Lưu… Hội nghị đã nêu cao ngọn cờ dân tộc, đề ra chủ trương vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân đánh đuổi Pháp, Nhật giành độc lập cho dân tộc; quyết định duy trì, phát triển căn cứ địa du kích Bắc Sơn - Võ Nhai; củng cố và mở rộng căn cứ địa Cao Bằng, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân thời điểm đó. Ngày 06/6/1941, cũng tại Pắc Bó, Bác Hồ lấy tên là Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư cho toàn thể đồng bào trong cả nước kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia Mặt trận Việt Minh. Người cho xuất bản báo Việt Nam độc lập gọi tắt là Việt Lập để tuyên truyền vận động quần chúng, đưa đường lối, chính sách của Mặt trận Việt Minh đến với mọi người dân; giáo dục, giác ngộ họ làm cách mạng. Người cũng biên soạn nhiều cuốn sách như: “Con đường giải phóng”, “Lịch sử nước ta”, “Mười điều Việt Minh”, “Địa dư Bắc Kỳ”…, sáng tác nhiều thơ ca nhằm giáo dục quần chúng tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết, đấu tranh bất khuất của dân tộc. Những ngày hoạt động ở Pắc Bó, cuộc sống của Bác vô cùng đạm bạc và kham khổ. Hang Cốc Bó - nơi Bác ở rộng khoảng 15m2, sâu chừng 5m tính từ cửa hang. Trong hang, Bác chỉ kê một tấm phản gỗ đơn sơ, mộc mạc của bà con người dân tộc Tày làm tặng, lương thực chủ yếu là cháo ngô và rau rừng. Những ngày sống và hoạt động ở đây, Bác thường mặc bộ quần áo của đồng bào dân tộc Nùng bạc màu, chiếc mũ vải và đôi hài bằng lá mo. Bác thường đến thăm, gặp gỡ, trò chuyện với đồng bào các dân tộc ở Pắc Bó, giải thích cho họ hiểu nguyên nhân của sự khổ cực, động viên, hướng dẫn họ tham gia mặt trận Việt Minh, tổ chức các hội yêu nước. Hình ảnh “Ông Ké”, “Già Thu”, “Đồng chí Già” đã trở nên thân thiết, gần gũi in đậm trong lòng người dân Pắc Bó những ngày đầu cách mạng khi Bác mới về nước. Vào năm 1940 - 1941, đời sống của những người dân ở Pắc Bó vô cùng cực khổ, lương thực chủ yếu chỉ là ngô. Nhiều gia đình thiếu đói, vào ngày giáp hạt phải vào rừng đào củ mài để kiếm sống qua ngày. Có những gia đình bốn đời truyền nhau một tấm áo chàm, miếng vá nọ chồng lên miếng vá kia, đến nỗi khi nhìn vào không còn nhận ra đâu là miếng vải may từ lúc đầu tiên. Tuy nhiên, tình cảm của những người dân Pắc Bó đối với Bác rất gần gũi và thân thiết. Để bảo đảm giữ bí mật cho Bác, Trung ương quy định chỉ một số quần chúng cách mạng mới được đến chỗ Bác ở, ông Hoàng Văn Lộc được phân công phục vụ riêng. Thời gian này, do điều kiện ăn uống và sinh hoạt rất kham khổ, sức khỏe của Bác sa sút nhiều. Biết được điều đó, bà Hoàng Thị Sò đã tìm mọi cách để tiếp tế thêm chút thức ăn đem vào nơi Bác ở để bảo đảm sức khỏe cho Người. Mỗi lần đi bà lại sử dụng chiếc túi lưới này để đựng thức ăn. Chiếc túi lưới không những là minh chứng cho những tình cảm của người dân Cao Bằng đối với Bác Hồ mà còn thể hiện công tác hậu cần trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn gặp rất nhiều khó khăn phải dựa vào nhân dân là chính. Hơn 70 năm đã trôi qua, chiếc túi lưới đã bị rách nhiều chỗ bởi thời gian, nhưng đó là một trong những kỷ vật minh chứng cho tình cảm thiêng liêng của những người dân Pắc Bó đối với Bác Hồ - vị Lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của dân tộc.Phạm Hà/ Bảo tàng Hậu cần QĐND Việt Nam


