Chiếc va-li lúa giống Lương Định Của giữ suốt đường về nước
Năm 1952, Lương Định Của đưa gia đình từ Nhật Bản về Việt Nam. Giữa hành trình thất lạc giấy tờ và tài sản, ông vẫn giữ nguyên chiếc va-li lúa giống – khởi đầu cho nhiều giống cây mới.
Tháng 9 năm 1952, trên hành trình từ Nhật Bản trở về Việt Nam, gia đình Lương Định Của gặp một biến cố lớn tại Hồng Kông: giấy tờ, tiền bạc và nhiều đồ đạc bị thất lạc. Trong hoàn cảnh ấy, có một món hành lý ông vẫn giữ được nguyên vẹn vì luôn mang sát bên mình: chiếc va-li đựng lúa giống. Với người khác, đó có thể chỉ là những hạt thóc nhỏ bé. Với nhà nông học trẻ tuổi, chúng là vật liệu của tương lai, là chiếc cầu nối những kiến thức di truyền hiện đại với những cánh đồng đang thiếu lương thực ở quê hương.
Lương Định Của sinh ngày 16 tháng 8 năm 1920 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách, nay thuộc vùng Đại Ngãi, Sóc Trăng. Ông lớn lên trong một gia đình trí thức giàu lòng yêu nước. Quá trình học tập đưa ông sang Nhật Bản, nơi ông theo đuổi ngành nông nghiệp và nghiên cứu di truyền cây trồng. Năm 1945, ông kết hôn với bà Nakamura Nobuko, một nữ sinh viên Nhật Bản. Người bạn đời ấy sau này cùng ông và các con lựa chọn trở về Việt Nam, chấp nhận một cuộc sống nhiều thiếu thốn để ông thực hiện khát vọng phục vụ đất nước.
Mùa hè năm 1951, Lương Định Của bảo vệ luận án về xử lý đa bội thể di truyền nhằm tạo giống lúa mới. Ông trở thành người trẻ nhất và là người nước ngoài duy nhất khi đó được cấp học vị bác sĩ nông học tại Nhật Bản, rồi được bổ nhiệm làm giảng sư chính thức tại Đại học Kyoto. Trước mắt ông là con đường khoa học rộng mở. Nhưng theo lời khuyên của bác sĩ Đặng Văn Ngữ, người đã trở về nước trước đó, ông tích lũy thêm tri thức rồi quyết định đưa gia đình về quê hương năm 1952.
Sau khi tới Sài Gòn, chính quyền thân Pháp tìm cách mời ông làm việc và hứa giao phụ trách một cơ sở nghiên cứu nông nghiệp. Lương Định Của tạm nhận công việc hợp đồng để che giấu ý định, đồng thời tìm đường liên lạc với cách mạng. Gần hai năm sau, Thành ủy Sài Gòn bố trí giao liên đưa gia đình ông ra vùng tập kết. Họ giả đi nghỉ ở Vũng Tàu, bí mật đổi xe, qua Mỹ Tho, Cần Thơ rồi xuống khu tập kết Cà Mau. Từ đó, gia đình lên tàu Ba Lan và tới Hà Nội vào ngày cuối cùng của năm 1954.
Ở miền Bắc, Lương Định Của đảm nhiệm nhiều công việc nghiên cứu, giảng dạy và quản lý: từ Đại học Nông Lâm, Viện Khoa học Nông nghiệp đến Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Nhưng nơi làm việc quan trọng nhất của ông vẫn là ruộng đồng. Có lần đi công tác, thấy nông dân cấy lúa theo lối cũ, ông dừng xe xuống góp ý. Khi nghe câu hoài nghi rằng người đi ô tô thì biết gì về cấy lúa, nhà khoa học lập tức xắn quần, bước xuống ruộng và cấy nhanh thành những hàng thẳng.
Kỹ thuật ông hướng dẫn là cấy nông tay để cây mạ không bị vùi quá sâu trong bùn, kết hợp chăng dây thẳng hàng và bảo đảm mật độ. Ông còn giới thiệu cào cỏ kiểu Nhật và đề xuất tổ chức “bờ vùng, bờ thửa”. Những biện pháp tưởng đơn giản ấy giúp việc chăm sóc thuận lợi hơn, tiết kiệm nước và phân bón, hạn chế sâu bệnh, đồng thời nâng năng suất. Điều thuyết phục người nông dân không phải học vị cao của ông, mà là việc ông có thể trực tiếp làm cùng họ và chứng minh hiệu quả ngay trên đồng ruộng.
Từ nguồn vật liệu giống mang về, Lương Định Của lai giống lúa Ba Thắc của Nam Bộ với giống Bunko của Nhật Bản, tạo ra Nông nghiệp 1, được ghi nhận là giống lúa lai đầu tiên của Việt Nam. Ông cùng đồng nghiệp tiếp tục nghiên cứu nhiều giống khác như lúa Mùa muộn, Chiêm 314, dòng 388 chọn từ IR8 và Xuân sớm Nông nghiệp 75-1. Mục tiêu không chỉ là tăng sản lượng, mà còn tạo cây có khả năng chống chịu sâu bệnh và phù hợp với các điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau.
Công việc của ông không dừng ở cây lúa. Lương Định Của nghiên cứu dưa hấu không hạt, dưa lê, cà chua, khoai lang, rau, chuối, táo và nhiều loại cây lương thực, thực phẩm khác. Người dân gọi sản phẩm bằng những cái tên thân thuộc như “lúa ông Của”, “khoai ông Của”, “dưa lê ông Của”. Họ cũng gọi ông là “bác Của”, bởi nhà khoa học nói giọng Nam Bộ, dáng người gầy, thường mặc quần ống thấp ống cao và lặn lội ngoài đồng từ sáng đến tối đã trở thành người quen của xóm làng.
Cùng với nghiên cứu, ông đào tạo nhiều thế hệ cán bộ nông nghiệp và giữ các trọng trách như Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp, Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Phó Hiệu trưởng Đại học Nông Lâm. Ông là đại biểu Quốc hội các khóa II, III, IV và V, đồng thời tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1955 đến 1975. Dù vậy, cuộc sống của gia đình vẫn giản dị; điều ông day dứt không phải thiếu tiện nghi mà là không đủ tiền đặt mua tạp chí khoa học nước ngoài.
Năm 1967, Lương Định Của được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Năm 1975, ông còn dẫn đầu đoàn chuyên gia sang Cuba giúp nghiên cứu phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa nước. Ông qua đời đột ngột ngày 28 tháng 12 năm 1975, khi mới năm mươi lăm tuổi. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và kỹ thuật đợt đầu tiên.
Câu chuyện chiếc va-li lúa giống cho thấy phẩm chất làm nên một nhà khoa học lớn không chỉ là khả năng tạo ra tri thức mới. Đó còn là sự tỉnh táo để nhận ra điều gì cần được giữ bằng mọi giá, sự can đảm từ bỏ vị trí thuận lợi để trở về, và lòng kiên nhẫn đưa lý thuyết xuống từng thửa ruộng. Những hạt giống Lương Định Của mang về đã nảy mầm không chỉ thành giống cây, mà còn thành một quan niệm bền vững: khoa học phải sống trong đời sống của nhân dân.


