Bài viết

Chiếc võng giữa rùng già

Lạng Sơn02/07/2026Đoàn TN (Đoàn TN)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Câu chuyện 14: Chiếc võng giữa rừng già

Mùa mưa năm 1969, trên tuyến hành lang Trường Sơn, mưa rừng kéo dài nhiều tuần liền. Những con đường đất đỏ trở nên lầy lội, suối dâng cao, việc vận chuyển hàng hóa và đưa thương binh về tuyến sau gặp vô vàn khó khăn. Trong Tiểu đoàn Vận tải 559, ai cũng biết đến anh nuôi trẻ Phạm Văn Cường, người luôn mang theo bên mình một chiếc võng dù màu xanh đã sờn cũ.

Chiếc võng ấy không phải quân trang được cấp. Đó là món quà của người mẹ đan từ nhiều năm trước khi Cường lên đường nhập ngũ. Ngày tiễn con, bà cẩn thận gấp chiếc võng đặt vào ba lô rồi dặn:

– Khi mệt thì mắc võng nghỉ lấy sức. Ở rừng nhiều muỗi, có võng sẽ đỡ vất vả hơn.

Cường luôn gìn giữ chiếc võng như một phần ký ức của gia đình. Thế nhưng, suốt mấy năm trong quân ngũ, anh rất ít khi nằm trên đó. Hễ có đồng đội bị sốt rét, người vừa hành quân đường dài hay thương binh cần nghỉ, Cường lại tháo võng của mình mắc cho họ trước.

Một buổi chiều cuối tháng Chín, đơn vị nhận lệnh đưa một thương binh nặng vượt hơn mười cây số đường rừng đến bệnh xá dã chiến. Người chiến sĩ ấy bị thương ở ngực, không thể đi lại.

Không có cáng chuyên dụng, Cường lập tức tháo chiếc võng, buộc chắc vào hai cây tre làm thành chiếc cáng tạm.

Bốn người thay nhau khiêng thương binh băng qua những con dốc trơn trượt. Có đoạn nước suối dâng cao ngang thắt lưng, mọi người phải vừa giữ cáng vừa dò từng bước để không bị dòng nước cuốn đi.

Đi được nửa đường thì trời đổ mưa như trút. Đường rừng tối sầm lại.

Một chiến sĩ nói:

– Nghỉ một lát đi, mưa lớn quá rồi.

Cường nhìn người thương binh đang mê man rồi lắc đầu:

– Chậm một giờ là thêm một phần nguy hiểm. Mình cố thêm chút nữa.

Đến gần nửa đêm, cả tổ mới đưa được thương binh đến bệnh xá.

Bác sĩ khám xong, xúc động nói:

– May các đồng chí đưa đến kịp thời. Chỉ chậm thêm một chút nữa sẽ rất khó cứu.

Nghe vậy, ai cũng thở phào nhẹ nhõm.

Khi chuẩn bị trở về đơn vị, Cường mới phát hiện chiếc võng đã bị rách nhiều chỗ vì cành cây và đá sắc. Đồng đội tiếc nuối:

– Võng hỏng rồi!

Cường nhẹ nhàng vuốt lại mép võng, mỉm cười:

– Nó hoàn thành nhiệm vụ rồi.

Những ngày sau, tranh thủ giờ nghỉ, Cường lấy chỉ dù vá từng đường rách. Chiếc võng chằng chịt những mũi vá, không còn đẹp như trước, nhưng vẫn tiếp tục theo anh trên những chặng đường hành quân.

Sau ngày đất nước thống nhất, Cường trở về quê. Trong căn nhà nhỏ, chiếc võng cũ vẫn được ông cất giữ cẩn thận. Mỗi lần con cháu hỏi vì sao không mua chiếc võng mới đẹp hơn, ông chỉ cười:

– Chiếc võng này từng cứu một người đồng đội. Với ông, nó quý hơn bất cứ thứ gì.

Năm 2015, trong buổi gặp mặt truyền thống của đơn vị, người thương binh năm xưa tìm gặp Cường. Ông xúc động ôm chầm lấy người đồng đội cũ và nói:

– Nếu ngày ấy không có chiếc võng của anh, có lẽ hôm nay tôi không còn được gặp lại gia đình mình.

Hai người lính già nắm chặt tay nhau, không ai nói thêm điều gì. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, chứa đựng cả ký ức của một thời bom đạn.

Ngày nay, chiếc võng đã được trao tặng cho nhà truyền thống của địa phương. Dù những đường vá đã bạc màu theo năm tháng, nó vẫn nhắc nhở mọi người rằng, trong thời hoa lửa, có biết bao điều bình dị đã trở thành biểu tượng của lòng nhân ái.

Chiếc võng ấy không chỉ nâng đỡ một người thương binh vượt qua rừng sâu, mà còn nâng đỡ tình đồng chí, đồng đội – thứ tình cảm thiêng liêng đã giúp những người lính Việt Nam vượt qua mọi gian khổ để đi đến ngày toàn thắng. Đó cũng là bài học quý giá dành cho thế hệ trẻ hôm nay: hãy biết yêu thương, sẻ chia và sống vì người khác, bởi chính những việc làm giản dị ấy sẽ tạo nên sức mạnh lớn lao cho cộng đồng và đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn