Anh hùng Lực lượng vũ trang

Chiếc xuồng hai đáy ngang dọc mùa chiến trận

Đồng Tháp19/08/2026Đoàn phường Cai Lậy (Phường Cai Lậy)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chiếc xuồng hai đáy ngang dọc mùa chiến trận

Ngày nay, nếu nhìn thấy một chiếc xuồng ba lá nằm im bên dòng nước, có lẽ chẳng mấy ai nghĩ bên dưới đáy xuồng ấy từng cất giấu những thứ có thể quyết định sự sống còn của cả một trận đánh.

Với người miền Tây, chiếc xuồng vốn chẳng có gì đặc biệt. Xuồng chở người qua sông, chở mớ rau, bao lúa, vài giỏ cá từ chợ về. Người miền Tây sống với sông nước lâu đến nỗi đôi khi quên mất mình đã gửi bao nhiêu năm tháng lênh đênh ở đó.

Nhưng cũng có một thời, những dòng sông hiền lành ấy không chỉ đưa người ta về nhà. Nó đưa người đi làm giao liên, đưa thuốc men và vũ khí về phía chiến trường, đưa những người con của quê hương đi qua những nơi mà chỉ một tiếng động bất thường cũng có thể khiến họ không trở về được nữa.

Những chuyến đi ấy có một người phụ nữ thường xuyên ngồi bên mái chèo. Người dân gọi Mẹ là Má Tám Hợi, tên thật là Mai Thị Út, quê ở ấp Mỹ Đa, xã Mỹ Hạnh Trung, thị xã Cai Lậy, Tiền Giang. Mẹ sinh năm 1912, lớn lên giữa nơi có những con rạch ngoằn ngoèo như những đường chỉ tay chạy qua xóm làng. Mẹ rành từng con nước như rành lối về nhà. Mẹ biết khúc nào nước sâu, chỗ nào dễ mắc lưới, bến nào có thể ghé vô, đoạn nào nên chèo chậm lại để khỏi lọt vào tầm mắt của địch.

Trong những năm chiến tranh, Mẹ vừa tuyên truyền, giác ngộ lý tưởng cách mạng, vừa làm giao liên, đưa vũ khí, thuốc men đến những nơi đồng đội đang cần. Đường bộ nhiều khi bị chặn, đồn bốt giăng dày, nên con nước trở thành đường đi của Mẹ. Nhưng muốn đưa hàng qua được những nơi ấy đâu dễ. Chỉ cần một lần bị phát hiện, chiếc xuồng nhỏ giữa dòng cũng chẳng còn chỗ nào để tránh.

Vậy là Mẹ cùng đồng đội nghĩ ra cách làm chiếc xuồng hai đáy. Nhìn bên ngoài, nó cũng như bao chiếc xuồng của bà con miền sông nước: trên xuồng có thể chất vài món hàng, trông cho ra dáng một chuyến đi bình thường. Nhưng bên dưới lớp đáy lại có một khoảng kín để giấu đạn dược, thuốc men. Cứ vậy, một cuộc chiến giành tự do đã được âm thầm mang qua sông. Có lẽ, chiếc xuồng hai đáy ấy hệt như cuộc đời của Mẹ. Phía trên là một người phụ nữ miền quê, bình dị đến mức có thể lẫn vào bất cứ bến sông nào. Nhưng phía dưới vẻ bình thường ấy là một tấm lòng đã chịu quá nhiều mất mát mà vẫn không chịu khuất phục.

Chồng Mẹ, ông Nguyễn Văn Hợi, hy sinh năm 1961. Hai người con trai của Mẹ cũng lần lượt ngã xuống. Chiến tranh lấy đi của Mẹ những người thân yêu nhất. Có những nỗi đau chắc phải mất cả đời người cũng không nói hết thành lời. Vậy mà Mẹ vẫn tiếp tục đi. Chiếc xuồng cần chèo thì Mẹ chèo. Con nước cần vượt thì Mẹ vượt.

Có lần, Mẹ chở gần chục thùng đạn đại liên đến khu vực bốt Kênh 12 thì bị địch kiểm tra. Giữa lúc nguy cấp, Mẹ tháo đáy xuồng, thả số hàng xuống sông nhưng vẫn sót lại một thùng. Mẹ bị bắt, bị tra tấn đến gãy ba xương sườn. Người ta tưởng sau trận đòn ấy, người phụ nữ sẽ không còn sức để đi tiếp. Nhưng khi được trả tự do, Mẹ lại trở về với công việc giao liên.

Có lẽ người miền Tây ít khi nói những lời lớn lao. Thương ai thì để dành phần ngon cho người đó. Nhớ ai thì ngồi bên bến nước chờ. Còn yêu quê hương thì cứ lặng lẽ làm điều mình có thể làm. Mẹ cũng vậy. Mẹ chỉ có chiếc xuồng, mái chèo và những chuyến đi nối dài trong năm tháng chiến tranh.

Từ năm 1972 đến 1974, dù đã ngoài 60 tuổi nhưng Mẹ tiếp tục vận chuyển vũ khí và thuốc men qua nhiều tuyến kiểm soát. Theo tư liệu, Mẹ đã vận chuyển trót lọt hơn 100 tấn vũ khí và 2,5 tấn thuốc men qua 25 đồn bót. Con số ấy, đọc lên hôm nay, nghe thật lớn. Nhưng có lẽ lúc ấy Mẹ chẳng nghĩ mình đang làm một điều gì lớn lao. Mẹ chỉ biết nơi nào cần hàng thì đưa hàng tới đó, nơi nào có người đang chờ thì cố gắng đưa chuyến xuồng tới nơi.

Có những buổi chiều trên sông, chắc Mẹ cũng từng nhìn mặt nước và nhớ nhà. Nhớ những người đã không còn ngồi chờ mình ở bến. Nhớ chồng. Nhớ những người con đã nằm lại đâu đó giữa những năm tháng chiến tranh. Rồi có lẽ Mẹ lại cầm mái chèo lên. Dòng nước vẫn chảy, chuyến đi vẫn phải tiếp tục. Bởi vậy, khi chiến tranh đi qua, điều còn lại trong câu chuyện về Mẹ không chỉ là những tấn vũ khí, những chuyến giao liên hay bao nhiêu lần vượt qua đồn bót. Điều còn lại là hình ảnh một người mẹ đã chịu những mất mát rất riêng nhưng vẫn làm một công việc rất chung cho quê hương.

Ngày nay, những dòng kênh ở Cai Lậy đã hiền hơn. Nước vẫn về theo con nước lớn, rồi ròng. Những chiếc xuồng vẫn đi qua những bến sông, nhưng chẳng còn phải giấu dưới đáy mình những thùng đạn hay thuốc men. Trẻ con có thể ngồi trên xuồng, cười đùa mà không biết rằng chính những dòng nước này từng chứng kiến bao người đi qua trong lặng lẽ. Có thể chiếc xuồng hai đáy năm xưa đã không còn. Gỗ rồi cũng mục. Mái chèo rồi cũng cũ. Những dấu chân trên bến sông cũng bị bao mùa nước xóa đi.

Nhưng có những chuyện nước không cuốn mất được.

Chuyện về một người mẹ đã chèo chiếc xuồng nhỏ của mình qua những năm tháng lớn lao của đất nước. Chuyện về một người phụ nữ đã mất chồng, mất con, từng chịu đòn roi của kẻ thù nhưng vẫn không buông mái chèo. Chuyện về những thứ được giấu dưới đáy xuồng năm ấy, không chỉ là vũ khí và thuốc men, mà còn là niềm tin rằng rồi sẽ có một ngày những dòng sông quê mình trở lại bình yên. Thế hệ chúng ta ngày nay, khi nhìn lại những câu chuyện ấy, đã bắt gặp trong mình trào dâng một lòng biết ơn với người đã từng chèo qua những mùa nước dữ để mình được bình yên mà lớn lên.

Mẹ Mai Thị Út đã trở thành Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng tôi nghĩ, nếu có dịp đứng bên dòng sông Cai Lậy vào một buổi chiều, nghe tiếng mái chèo của một chiếc xuồng nào đó khua nhẹ trên mặt nước, có lẽ ta sẽ nhớ về Mẹ theo một cách giản dị hơn.

Như nhớ một người mẹ quê mình.

Một người đã từng ngồi đó, trên chiếc xuồng nhỏ, giữa mênh mang sông nước.

Và chèo về phía trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn