Chiến công tiên tiến của một đơn vị Anh hùng
Chiến công tiên tiến của một đơn vị Anh hùngBảo tàng Lực lượng Tăng thiết giáp hiện đang lưu giữ một lá cờ Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tặng cho Đại đội 7 - Tiểu đoàn 4 - Trung đoàn tăng 201 - Binh chủng Tăng Thiết giáp vì những chiến công xuất sắc trong, chiến đấu và xây dựng đơn vị từ tháng 11 năm 1971 đến tháng 12 năm 1972.
Năm 1971, sau thắng lợi có ý nghĩa chiến lược tại mặt trận Đường 9 - Nam Lào, ta chủ trương tiếp tục tiến công, giữ vững, phát triển thế và lực, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972.Ngày 18 tháng 11 năm 1971, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn tăng 201, với 4 tiểu đoàn chiến đấu. Đại đội 7 được thành lập ngày 28 tháng 2 năm 1972 trên cơ sở Đại đội 10 - Tiểu đoàn 4 và nằm trong biên chế của Tiểu đoàn 4. Sau khi thành lập, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 đã nhanh chóng ổn định tư tưởng, tổ chức, khắc phục khó khăn, phát động phong trào thi đua “Rèn luyện tốt, lập công lớn” và đã đạt được kết quả tốt: Pháo thủ bắn bài 2 đều đạt loại giỏi; Cán bộ và trưởng xe đã nâng được trình độ sử dụng phương tiện chỉ huy trên xe; Chiến thuật 1 xe và trung đội đạt khá.Ngày 10 tháng 3 năm 1972, Đại đội 7 được lệnh hành quân vào mặt trận Quảng Trị. Do làm tốt công tác chuẩn bị, nên chỉ sau 3 ngày hành quân, đơn vị đã vượt hơn 700km, đến địa điểm tập kết tại Vĩnh Linh, đảm bảo 100% người và xe an toàn. Tại đây, Đại đội 7 được giao nhiệm vụ phối thuộc với Tiểu đoàn 512 - Trung đoàn 203 tham gia chiến đấu. Đồng chí Nguyễn Xuân Khai - Trợ lý quân lực Bộ tư lệnh được ủy quyền truyền đạt mệnh lệnh bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Văn Thái (lúc này là Đại đội trưởng Đại đội 6 - Tiểu đoàn 512 - Trung đoàn tăng 203) làm Đại đội trưởng Đại đội 7.Ngày 29 tháng 3 năm 1972 đại đội được giao nhiệm vụ đánh vào chốt phòng ngự của địch ở Quán Ngang và căn cứ Đông Hà, vì đây là trận đánh đầu tiên của Đại đội 7 hiệp đồng với bộ binh nên có ý nghĩa rất quan trọng. Do đó, đơn vị đã hạ quyết tâm chiến đấu, động viên cán bộ, chiến sĩ phát huy truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”, giành thắng lợi ngay từ trận đầu để cổ vũ tinh thần cho bộ đội và rút kinh nghiệm cho các trận đánh sau.10 giờ 30 phút ngày 2 tháng 4 năm 1972, đơn vị nổ súng tiến công Quán Ngang. Do đã hiệp đồng chặt chẽ với Trung đoàn bộ binh 48 nên sau gần 1 giờ chiến đấu quyết liệt với quân địch, đại đội đã góp phần tiêu diệt hơn 200 tên địch, bắn sập 10 lô cốt, bắn cháy 2 kho xăng dầu, đạn dược, phá huỷ 1 trận địa pháo, yểm trợ đắc lực cho bộ binh đánh chiếm cửa ngõ quan trọng của Quảng Trị, mở thông đường cho quân ta truy kích địch đến cầu Đông Hà và chốt giữ tại bờ Bắc sông Thạch Hãn. Sau khi cầu Đông Hà bị đánh sập, ngày 9 tháng 4, Đại đội 7 được lệnh quay về đội hình tiểu đoàn cùng Đại đội tăng 6 phối thuộc cho Sư đoàn bộ binh 308 tiến công điểm cao 30 bên ngoài căn cứ Đông Hà.Sau khi các cứ điểm bảo vệ vòng ngoài lần lượt bị quân ta tiêu diệt, địch co cụm về bảo vệ Đông Hà, với chiến thuật “phòng ngự vỏ thép”, chúng bố trí hàng chục xe tăng, xe thiết giáp trong công sự ngầm xung quanh căn cứ, gây cho ta rất nhiều khó khăn trong các đợt tiến công tiếp theo. Sau nhiều lần trinh sát, nghiên cứu trận địa, Đại đội trưởng Nguyễn Văn Thái đã chỉ huy đơn vị đưa xe tăng lên các điểm cao xung quanh căn cứ để dễ quan sát, phát hiện xe tăng trong hầm của địch. Ngày 27 tháng 4 năm 1972, trận đánh căn cứ Đông Hà bắt đầu. Đồng chí Nguyễn Văn Thái ngồi trên xe tăng T54 số hiệu 901 chỉ huy chiến đấu. Khi thấy pháo thủ trên xe bắn không có hiệu quả, đồng chí đã xuống thay vị trí và ngắm bắn trực tiếp ở cự ly 1000m tiêu diệt liên tiếp 5 xe tăng trong hầm của địch, các xe khác tiêu diệt thêm 2 xe. Chớp thời cơ, xe tăng dẫn dắt bộ binh ta xông lên chiếm điểm cao 37. Trong quá trình cơ động, xe 901 bị dây thép gai cuốn vào bánh chủ động không di chuyển được đã đứng tại chỗ bắn yểm trợ cho các xe khác đánh chiếm cửa mở. Ngay lập tức, đồng chí Nguyễn Văn Thái chuyển sang xe tăng T54 số hiệu 992 chỉ huy các xe trong đơn vị tiếp tục truy kích địch, dẫn dắt bộ binh thọc sâu đánh chiếm điểm cao 26, tiêu diệt toàn bộ Sở chỉ huy chiến đoàn 20 Ngụy. Tối 28 tháng 4 năm 1972, quân ta làm chủ hoàn toàn khu vực Đông Hà - Lai Phước. Ngày 15 tháng 6 năm 1972, Đại đội 7 được tăng cường người và xe, đánh vào Mỹ Chánh, 3 xe tăng của đại đội đã diệt 35 tên địch, yểm trợ đắc lực cho bộ binh đánh chiếm các điểm cao. Ngày 20 tháng 8 năm 1972, đại đội nhận nhiệm vụ đánh chiếm điểm cao 105, các kíp xe đã tiêu diệt 1 đại đội bộ binh địch…Sau 1 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đại đội 7 đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, tham gia chiến đấu 7 trận, tiêu diệt gần 1000 tên địch; bắn cháy 14 xe tăng; bắn sập 20 lô cốt; phá hủy 3 kho đạn, kho xăng dầu; tiêu diệt 2 trận địa pháo và súng cối; phá vỡ chiến thuật “phòng ngự vỏ thép” của địch, góp phần giải phóng thị xã Quảng Trị. Đơn vị đã kết hợp chặt chẽ chiến đấu và xây dựng, càng đánh càng mạnh, trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt và luôn là lá cờ đầu của Binh chủng Thiết giáp trên mặt trận Quảng Trị, được các đơn vị bạn khen ngợi và học tập. Với những chiến công xuất sắc đó, đơn vị đã liên tục nhận được các phần thưởng cao quý do Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng: - 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng 3. - 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng 2. - 7 xe được tặng Huân chương chiến công giải phóng ( trong đó có xe tăng T54 số hiệu 992 được tặng thưởng 2 lần) - 45% cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng Huân chương. - 50% cán bộ, chiến sĩ được tặng Bằng khen, Giấy khen.Đặc biệt ngày 20 tháng 12 năm 1972, tập thể cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7- Tiểu đoàn 4 - Lữ đoàn tăng 201 vinh dự được đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tặng. Hiện nay, Đại đội 7 nằm trong biên chế Tiểu đoàn 1 - Lữ đoàn tăng 201 – Binh chủng Tăng thiết giáp. Phát huy truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh, trong những năm qua cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 luôn đạt nhiều thành tích cao trong học tập, rèn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xứng đáng với danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.Mỹ Anh/ Bảo tàng LL Tăng thiết giáp



