Anh hùng Lực lượng vũ trang

CHIẾN ĐẤU TRONG ĐỘI NGŨ TRUNG ĐOÀN 28 (LẠNG SƠN)

CHIẾN ĐẤU TRONG ĐỘI NGŨ TRUNG ĐOÀN 28 (LẠNG SƠN)

12/02/2026PHẠM NGỌC XƯƠNG1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đoàn kết và chiến đấu là chìa khoá của mọi thắng lợi. Tôi vẫn còn nhớ tới cán bộ chiến sĩ đại đội trợ chiến 318 - các ông CTV Tráng Sỹ, Lê Ngọc Cừ, cán bộ quản trị đại đội Hồ Quang Dần, các cán bộ trung đội, ông Thường, Hoàng Long, và chiến sĩ liên lạc - ông Sửu (quê Thất Khê) và các chiến sỹ 12 ly 7 và cối 81 ly v.v... trong đại đội trợ chiến 318.

Các đơn vị bạn 385 + 316 + 317, các ông Đinh Giang, Lê Hoàn, Hùng Quốc, Bế Chu Lang, Đinh Như Thành, Đoàn Độ, Phạm Như Lai và ông Sáu Nhật (chạy sang với Việt Minh tại Lạng Sơn năm 1945...) v.v...

Một chiến tích xuất sắc ghi nhớ trong chiến dịch Thu Đông 1947, trận phục kích Bông Lau - Lũng Phầy (30/10/1947) một trận đánh vang dội, tiêu biểu, trận thắng lớn đạt hiệu suất cao nhất khi bước vào chiến dịch Thu Đông Việt Bắc 1947 kể từ ngày mở đầu kháng chiến toàn quốc tới ngày đó, do ông Đoàn Thế Hùng tham mưu trưởng trung đoàn 28 trực tiếp chỉ huy. Cũng là lần đầu gặp anh Sáu Nhật trinh sát chọn trận địa và phác họa đánh phục kích ngay trên trận địa. Tiểu đoàn 249 mang danh hiệu "Tiểu đoàn Bông Lau" sau chiến thắng.

Năm 1948, Bộ Tổng Chỉ huy ra lệnh khu 1 và khu 12 hợp thành liên khu Việt Bắc. Bộ Tư Lệnh gồm: Chu Văn Tấn, Lê Quảng Ba và Lê Hiến Mai (chính ủy).

Tăng cường công tác lãnh đạo, đồng chí Hà Kế Tấn được Bộ Tư Lệnh Liên khu Việt Bắc điều về làm trung đoàn trưởng trung đoàn 28 Lạng Sơn.

Mặt trận Lạng Sơn liên tục đánh địch. Trung đoàn 28 phối hợp với các lực lượng tăng cường của Bộ Tư lệnh Liên khu Việt Bắc và của cả Bộ Tổng chỉ huy tổ chức những trận phục kích, tập kích các đồn địch trên đường số 4 từ Thất Khê xuống Na Sầm - Đồng Đăng, chặn đánh địch đi càn...

Trong những năm 1948, trung đoàn 28 Lạng Sơn giao nhiệm vụ cho các cán bộ Võ bị Lục Quân (gồm các anh Huy Thi, Lưu Bằng, Vũ Ngọc Am, Ngọc Xương) và anh Sáu Nhật mở lớp huấn luyện cơ bản cho cán bộ cấp tiểu đội và trung đội trong khóa học 2 tháng (3 - 4/1948) để về huấn luyện lại chiến sỹ trong các môn cá nhân chiến đấu, xạ kích, ném lựu đạn và cá nhân chiến đấu trong đội hình chiến đấu tiểu đội và trung đội tại Ba Xã.

Đại đội trợ chiến 318 do đại đội phó Phạm Ngọc Xương chỉ huy là đơn vị hỏa lực trực tiếp của trung đoàn Lạng Sơn được tham dự nhiều trận đánh cùng các đơn vị bạn trong tiểu đoàn 249 (ông Bắc Quân tiểu đoàn trưởng, ông Đắc Hanh chính trị viên) trên đường số 4 và với các đại đội độc lập ở các hướng quan trọng của huyện Điềm He (Đồng Đăng), huyện Thất Khê và Thoát Lãng (Na Sầm), hành quân tác chiến trên khắp chiến trường Lạng Sơn (đường số 4 và số 1).

Năm 1949, quân Pháp lấy Bắc Bộ làm chiến trường chính, Cao Bằng - Lạng Sơn nằm trong tuyến phòng thủ Biên giới của quân Pháp; xây dựng quân ngụy làm nhiệm vụ chiếm đóng, lực lượng Âu Phi cơ động càn quét và mở rộng bằng nhiều cuộc tiến công lớn trong kế hoạch Revers.

Về phía ta, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 (14-18/1/1949) từ sự phát triển chiến tranh du kích 1948, nhận định so sánh lực lượng Ta và Địch đang thay đổi có lợi cho ta. Thuận lợi mới là Giải Phóng quân Trung Quốc đã tấn công Hoa Nam sẽ tiến sát Biên giới Việt Nam. Hồ Chủ Tịch nêu rõ: "Kháng chiến trên hết, quân sự trên hết, tất cả phục vụ kháng chiến thắng lợi".

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ và của Liên khu Việt Bắc mở ra 2 chiến dịch ở Cao Bắc Lạng và Đông Bắc vùng Duyên Hải. Từ tháng 3-5/1949 Cao Bằng - Lạng Sơn ở hướng chính có nhiệm vụ làm tê liệt đường giao thông số 4, triệt tiếp tế của địch trên toàn bộ phía Bắc và Đông Bắc, tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã ngụy binh, buộc chúng phải rút khỏi Bắc Cạn.

Đại đội trợ chiến của tôi chiến đấu trong đội hình của Trung đoàn 28 (Lạng Sơn) cùng du kích địa phương đánh phá các đồn Bông Lau. Tiểu khu Thất Khê và Na Sầm bị kiềm chế mạnh và đột nhập đánh phá.

Đợt 2 chiến dịch mở ra bằng trận phục kích lớn ngày 24/5/1949 trên quãng đường địa hình hiểm trở giữa đồn Bông Lau và đồn Lũng Phầy. Lực lượng phục kích của ta có 3 tiểu đoàn: tiểu đoàn 23 (của Bộ), tiểu đoàn 251 (Cao Bằng) do đồng chí Nguyễn Hữu An chỉ huy, tiểu đoàn 249 (Lạng Sơn) do đồng chí Bắc Quân chỉ huy, đại đội trợ chiến 318 được tiểu đoàn 249 giao nhiệm vụ khóa đuôi và bố trí phòng không. Còn đơn vị chặn đầu là tiểu đoàn 23. Đoàn xe 114 chiếc cả cơ giới và thiết giáp cùng 500 Âu Phi rơi vào bẫy của ta. Trận đánh quyết liệt hơn cả trận 30/10/1947. Chỉ huy chung trận đánh do trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt bài binh bố trận chặt chẽ. Các đơn vị đều lập công. Tiểu đoàn 251 (Cao Bằng) lập công xuất sắc được tặng danh hiệu "tiểu đoàn Lũng Phầy". Chiến dịch kết thúc thắng lợi.

Ngày 3/8/1949, Bắc Cạn là tỉnh đầu tiên ở Việt Bắc được giải phóng hoàn toàn, đã tạo nên một hình thái mới trên chiến trường Việt Bắc.

Nhận định của Hội nghị Trung ương lần 6: Ta càng đánh càng mạnh, tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi có lợi cho ta. Từ chủ động chiến dịch đến chủ động chiến lược bộ phận. Đặc biệt, nhấn mạnh việc xây dựng bộ đội chủ lực phải coi là trung tâm công tác.

Theo chỉ thị của Bộ quyết định chọn trong các trung đoàn 74 (Cao Bằng), 72 (Bắc Cạn), 28 (Lạng Sơn) lấy 3 tiểu đoàn mạnh thành lập trung đoàn 174 (Cao Bắc Lạng).

Như vậy, ngày 19/8/1949, trung đoàn 174 được quyết định thành lập và là đơn vị chủ lực đầu tiên của Bộ Tổng chỉ huy. Trung đoàn 209 và đại đoàn 308 cũng là những đơn vị chủ lực của Bộ có nhiệm vụ vẻ vang đi tiên phong trên con đường vận động chiến.

Ngày 19/8/1949 Bộ quyết định thành lập Trung đoàn 174.

Nói riêng, tiểu đoàn 386 của trung đoàn 28 Lạng Sơn đổi danh hiệu thành 249 khi thành lập trung đoàn 174 là tiểu đoàn tham gia đánh quân Pháp từ ngày địch gây hấn ở Lạng Sơn (11/1946), đánh trận nối tiếng ở đèo Bông Lau (30/10/1947). Sau đó liên tục hoàn thành nhiệm vụ diệt địch trên đường số 4 (đánh phục kích táo bạo) và nhiều trận đánh đồn bốt kể cả chi khu Đông Khê, Thất Khê, và Na Sầm. Cán bộ chỉ huy là các ông Lý Thế Kim, ông Bắc Quân, phó là ông Duy Thiện, Nguyễn Văn Khiếu, chính trị viên Nguyễn Đắc Hanh v.v... qua từng thời kỳ.

Đội ngũ cán bộ chiến sỹ của Trung đoàn 174 hầu hết là con em các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan... Số anh em dân tộc Kinh cũng có, nhưng tỷ lệ nhỏ hơn, trong đó là mấy anh em Võ bị Lục quân chúng tôi và những anh em làm chuyên môn văn thư và chỉ huy các đơn vị thông tin, công binh, trinh sát v.v... Anh em người Kinh hòa mình nhanh chóng với anh em các dân tộc gan góc dũng cảm. Tất cả đều gắn bó đoàn kết với nhau.

Ngày 19/8/1949, cũng là ngày tôi được chính thức công nhận chức đại đội trưởng đại đội trợ chiến trong số các đại độc trực thuộc... Tôi kiên trì liên tiếp chiến đấu và có tình cảm sâu sắc với trung đoàn Lạng Sơn, cố gắng làm tròn nhiệm vụ đã giao; lại càng thấm thía bài học "Cầm quân" mà tướng Nguyễn Sơn đã giáo dục đào tạo chúng tôi ở trường Lục quân Quảng Ngãi năm 1946.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn