Bài viết

Chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972 và trận giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh

Gia Lai18/05/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972 và trận giải phóng Đắc Tô - Tân CảnhChiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972 và trận giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh

Sau hơn ba năm thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, đẩy mạnh “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào và mở rộng chiến tranh sang Campuchia, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở Đông Dương càng thêm suy yếu. Đặc biệt những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ba nước Đông Dương trong năm 1971 ở Đường 9 - Nam Lào, Cánh Đồng Chum, Krek - Công Pông Thom đã dẫn đến những thay đổi quan trọng trong cục diện chiến tranh. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng (5.1971); “Phát triển thế tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, đánh bại chính sách “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trong thế thua”. Xuân hè năm 1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược trên ba hướng: Trị - Thiên (chủ yếu), Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (phối hợp). Trong đó, chiến trường Tây Nguyên được Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ: “Tiêu diệt địch, giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Hướng phát triển có thể là hướng Pleiku, có điều kiện thì mở rộng vùng giải phóng tây Pleiku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ”. Quán triệt, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và chỉ thị, nhiệm vụ của Quân uỷ, Bộ Tổng tư lệnh giao, cuối tháng 10/1971 Đảng uỷ Chiến trường Tây Nguyên họp bàn ra nghị quyết, xác định quyết tâm: “Tích cực tạo mọi điều kiện, tập trung bộ đội chủ lực và binh khí kỹ thuật mở chiến dịch tấn công, đồng thời sẵn sàng phản công đánh bại quân địch, sau đó chuyển sang tấn công và mở chiến dịch tổng hợp phá ấp giành dân ở các tỉnh, nhằm: tiêu diệt một số chiến đoàn, trung đoàn địch, đánh quỵ sư đoàn thuộc Quân đoàn 2 và tổng dự bị quân nguỵ; giải phóng một vài thị xã và giải phóng phần lớn nông thôn, mở Tây Nguyên thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa rừng núi Trị -Thiên đến miền Đông Nam Bộ và Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia, hình thành căn cứ địa vững mạnh rộng lớn của cách mạng ba nước Đông Dương”. Để tạo điều kiện cho Tây Nguyên hoàn thành thắng lợi chiến dịch, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1972 Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 bổ sung, tăng cường cho Mặt Trận Tây Nguyên các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 320A, Trung đoàn bộ binh 24B, Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu Trung đoàn 31) Quân khu 5, Tiểu đoàn đặc công 20, 3 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5mm, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn vận tải ô tô (827), 2 tiểu đoàn vận tải bộ, 2 đội điều trị (17,25) và một số phân đội bảo đảm, hậu cần, kỹ thuật. Bộ đội chủ lực Tây Nguyên có bước phát triển nhảy vọt cả về số lượng và chất lượng. Trước khi chiến dịch mở màn, khối chủ lực B3 có 2 sư đoàn bộ binh (320A, 2), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (66, 28, 95, 24B), 1 trung đoàn đặc công (400), 2 trung đoàn pháo binh hỗn hợp (40, 675), 1 tiểu đoàn xe tăng (297), 4 tiểu đoàn phòng không, 2 trung đoàn công binh (83, 7) và nhiều đơn vị trinh sát, thông tin, hậu cần kỹ thuật cùng 423 xe (216 xe tác chiến, 207 xe vận tải). Tổng quân số lên đến 47.647 người, gấp 2 lần so với năm 1971 (24.483 người). Số tiểu đoàn bộ binh (29 tiểu đoàn) nhiều hơn thời kỳ cao điểm của năm 1968 (27 tiểu đoàn). Các trung đoàn bộ binh đều có trên 2000 người, quân số chiến đấu từ 1700 đến 1800 người. Trung đoàn pháo binh 40 tổ chức thêm một tiểu đoàn pháo cơ giới, trang bị pháo 105 và 155mm thu được của địch. Nhiều đồng chí lãnh đạo, chỉ huy được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên. Ban Bí thư Trung ương Đảng cử đồng chí Tư Thuận (Trương Chí Cương) - Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng vào trực tiếp làm Chính uỷ Chiến dịch; Bộ tổng Tham mưu cử đồng chí Nguyễn Hoà vào làm Phó Tư lệnh Chiến dịch. Các cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần cũng cử nhiều cán bộ, phái viên vào công tác giúp đỡ B3 mở chiến dịch. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên họp bàn phương án tác chiến cho chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972 - Ảnh TL Bảo tàng Binh đoàn Tây Nguyên. Sở Chỉ huy tiền phương chiến dịch được thành lập, đứng chân ở phía đông Đắc Tô - Tân Cảnh, trực tiếp chỉ huy lực lượng tác chiến trên hướng đông. Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch (Mặt trận cánh Đông) và chủ trì ba cơ quan gồm các đồng chí: Tư lệnh Nguyễn Mạnh Quân, Chính uỷ Đặng Vũ Hiệp, Phó Tư lệnh Hồ Đệ, Phó Chính uỷ Lã Ngọc Châu, Tham mưu trưởng Trần Quốc Biên, Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Hữu Hưu, Chủ nhiệm Hậu cần Đặng Văn Khoát. Phối hợp chặt chẽ với các hướng trong cuộc tiến công chiến lược toàn miền Nam. Đúng 6 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972, Trung đoàn bộ binh 52, Sư đoàn 320 do Trung đoàn trưởng Hồ Hải Nam và Chính uỷ Đặng Ngọc Truy chỉ huy, nổ súng vây ép tiểu đoàn dù 2 ở điểm cao 1049, mở đầu chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972. Địch đổ quân tăng viện ra bờ tây sông Pô Kô. Mục đích vây ép đã đạt được, Trung đoàn 52 được lệnh chuyển sang tiến công tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù 2, làm chủ điểm cao 1049. Trung đoàn 64 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn dù 11 ở điểm cao 1015. Sau ba ngày tiến công, tiểu đoàn dù 11 bị tiêu diệt hoàn toàn, hơn 350 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, 20 máy bay bị bắn rơi, hàng trăm súng bị phá huỷ và gần 160 khẩu bị tịch thu. Đây là trận tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn dù đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, hạ uy thế cái gọi là “lực lượng tin cậy nhất trong các lực lượng trù bị quốc gia” của quân nguỵ Sài Gòn. Bọn lính mũ đỏ hùng hổ kéo ra bờ tây sông Pô Kô hòng “rửa mối hận” năm trước ở Đường 9-Nam Lào, cho máy bay rải truyền đơn khắp núi rừng với lời lẽ huênh hoang chợ búa, thách Sư đoàn 320 giao chiến và rùm beng tuyên bố với giới báo chí rằng sẽ “nghiền nát Sư đoàn 320 Bắc Việt tại Tây Nguyên” đã thảm bại nhục nhã. Chiến thắng ở điểm cao 1015 đã hoàn thành trận then chốt thứ nhất của chiến dịch, chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài bên bờ tây sông Pô Kô của địch, góp phần quan trọng tạo thế phát triển cho toàn mặt trận. Với chiến công vẻ vang này, Trung đoàn 64 vinh dự được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba. Phối hợp với Sư đoàn 320 tiến công địch bên bờ tây sông Pô Kô, ở phía bắc, Sư đoàn 2 do Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn và Chính uỷ Lê Đình Yên chỉ huy pháo kích, tập kích vào trận địa pháo, Sở Chỉ huy Trung đoàn 47, bao vây Tiểu đoàn 9 thuộc Lữ đoàn dù 3 và đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 4, tiêu hao Tiểu đoàn 1 của địch ở Ngọc Tụ. Trên đường 14 đoạn Kon Tum - Diên Bình, Trung đoàn 28 sau khi diệt Tiểu đoàn 23 biệt động quân (24-28.3), tập trung lực lượng đánh phá giao thông, pháo kích Võ Định, tập kích diệt trận địa pháo ở Kông Trăng Lăng Loi (7/4) phá 9 pháo lớn, 20 xe, 3 kho đạn, 1 kho xăng, diệt 130 tên địch. Ở phía nam thị xã Kon Tum, Trung đoàn 95 tổ chức 7 chốt hoả lực trên dãy Chư Thoi, chặn đánh một số đoàn xe trên đường 14 và đánh quân giải toả, phá huỷ gần 100 xe, diệt hàng trăm tên; buộc địch phải huy động 2 Trung đoàn 53, 45 và 2 Chi đoàn thiết giáp có pháo binh máy bay chi viện mạnh nhưng vẫn không mở thông được đoạn đường huyết mạch này. Tuyến phòng thủ vòng ngoài ở bờ tây sông Pô Kô bị đập vỡ, đường 14 bị cắt đứt, địch ở thung lũng Đắc Tô - Tân Cảnh bị cô lập. Nắm vững thời cơ thuận lợi, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn 66 được tăng cường Tiểu đoàn 37 đặc công, Đại đội 7 xe tăng, Đại đội 53 cao xạ tự hành, Đại đội 29 B72, 4 đại đội cối và súng máy phòng không, được các cụm pháo binh chiến dịch chi viện, tiến công tiêu diệt căn cứ 42 trung tâm chỉ huy của tập đoàn phòng ngự phía bắc tỉnh Kon Tum, giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh. Chỉ huy Trung đoàn 66 bàn phương án hiệp đồng tiến công căn cứ 42 - Ảnh TL Bảo tàng Binh đoàn Tây Nguyên. Căn cứ 42 nằm trên một dải đồi trọc, cách thị trấn Tân Cảnh và đường 18 khoảng 1 km về phía tây nam, rộng chừng 24 héc ta, có cấu trúc hình lục giác. Bên trong có nhiều loại công sự được cấu trúc vững chắc, xung quanh có từ 8 đến 14 hàng rào kẽm gai, xen kẽ có nhiều mìn chống tăng và chống bộ binh. Khi ta tiến công, lực lượng địch ở căn cứ 42 gồm có: Chỉ huy Sư đoàn 22 và cố vấn Mỹ, chỉ huy Trung đoàn 42, chỉ huy Trung đoàn 14 thiết giáp, chỉ huy biên phòng tỉnh Kon Tum, chỉ huy ba tiểu đoàn 1, 2, 4/42, 1 đại đội bảo vệ, 1 đại đội trinh sát, 1 đại đội công binh, 1 thiết đoàn (41 xe tăng, xe bọc thép), 1 tiểu đoàn pháo (10 khẩu 105, 155), với tổng số quân khoảng 1500 tên, bố trí thành 13 khu. Là một cứ điểm phòng thủ mạnh, lại có nhiều cứ điểm và lực lượng xung quanh bảo vệ sẵn sàng ứng cứu, được máy bay pháo binh chi viện tối đa nên địch huênh hoang tuyên bố: “Bao giờ nước sông Pô Kô chảy ngược thì Việt Cộng mới đánh được”! Thực hiện kế hoạch chiến đấu, trong ba ngày 21, 22, 23 tháng 4 các cụm pháo chiến dịch của Trung đoàn 40 và Trung đoàn 675 bắn phá mạnh vào căn cứ 42. Đạn pháo rơi trúng hầm chỉ huy Sư đoàn 22 khi chúng đang họp, diệt một số tên; phá huỷ hoàn toàn khu thông tin, đài ra đa điều khiển máy bay, nhà máy điện, phá sập 50% nhà cửa, gây hàng chục đám cháy. Hoả lực Trung đoàn 66 và lực lượng tăng cường tham gia bắn diệt nhiều lô cốt, hoả điểm, xe tăng, xe bọc thép trước cửa mở. Lợi dụng kết quả hoả lực chuẩn bị, bộ binh nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa tiến công ở hướng đông (chủ yếu), tây bắc (thứ yếu) và nam (quan trọng). Xe tăng, cao xạ tự hành được hơn 30 cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 66 và công binh dẫn đường, vượt qua ngầm Đắc Ta Kan, cầu Đắc Sinh rẽ về hướng tây bắc và theo đường 14 chọc qua thị trấn Tân Cảnh tiến vào trận địa tiến công. Tranh thủ thời cơ khi xe tăng ta bất ngờ xuất hiện trong thị trấn, địch ở đây hoang mang; Tiểu đoàn 9 cùng đội công tác của tỉnh Kon Tum tiến công giải phóng Tân Cảnh lúc 4 giờ 55 phút ngày 24 tháng 4, tạo thêm thuận lợi cho các lực lượng tiến công trên hướng chủ yếu phía đôngĐúng 4 giờ 30 phút ngày 24 tháng 4, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 Phùng Bá Thường ra lệnh tiến công. Lập tức, các loại hoả lực của trung đoàn và xe tăng bắn dồn dập trong vòng 20 phút vào các mục tiêu. Căn cứ 42 chìm trong khói lửa, trên các hướng tiến công, bộ binh nổ mìn định hướng và đánh bộc phá vào những hàng rào trong cùng. Hướng chủ yếu phía đông, Tiểu đoàn 7 mở thông 10 hàng rào thép gai, chỉ còn lại hàng rào cuối cùng. Bộ đội dùng tôn đặt lên để vượt qua, xung phong đánh chiếm đầu cầu. Hai xe tăng tiến thẳng vào cổng chính dùng hoả lực diệt các mục tiêu phía trước, dẫn dắt bộ binh đánh thọc vào bên trong. Tuy đã núng thế nhưng địch vẫn ngoan cố chống cự, dựa vào công sự và công trình kiến trúc cho bộ binh, xe tăng ngăn chặn, phản kích. Trên trời, máy bay địch gầm rú trút bom đạn xuống trận địa của ta. Giữa lúc trận đánh diễn ra ác liệt, khẩn trương Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Vượng nhảy lên nóc xe tăng 373 chỉ huy một lực lượng lao vào tiếp ứng. Khi bị thương đồng chí vẫn nén đau tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh thọc sâu vào sở chỉ huy địch. Được 4 xe tăng dẫn dắt, 2 xe tăng và 2 cao xạ tự hành đứng bên ngoài hàng rào chi viện, các chiến sĩ Tiểu đoàn 7 lần lượt đánh chiếm, làm chủ các mục tiêu: Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, khu làm việc, hậu cần, kỹ thuật, chỉ huy sở Trung đoàn 42, chỉ huy sở Sư đoàn 22 và khu cố vấn Mỹ. Trên hướng thứ yếu phía tây bắc, được 3 xe tăng và 1 cao xạ tự hành do Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển chỉ huy, chi viện hoả lực, Tiểu đoàn 8 đánh bộc phá mở thông 7 hàng rào, rồi dùng gỗ đặt lên nửa hàng rào trong cùng cho bộ đội vượt qua đánh vào bên trong. Bộ binh, xe tăng phối hợp nhịp nhàng đánh chiếm các mục tiêu: khu cố vấn, kỹ thuật, tiểu đoàn 4. Riêng xe tăng trên hướng này bắn diệt hoả điểm địch trên tháp nước và 4 xe tăng, phá sập 15 lô cốt, chi viện cho bộ binh rất hiệu quả. Khi thấy ta cơ bản làm chủ căn cứ 42, theo lệnh của trên, trung đội xe tăng của Nguyễn Nhân Triển rời căn cứ tiến sang phía tây bắc phối thuộc cho Trung đoàn 1 đánh chiếm căn cứ Đắc Tô 2. Cùng thời gian này, ở hướng tiến công phía nam, Tiểu đoàn 37 đặc công do tiểu đoàn trưởng Đỗ Công Mùi chỉ huy tổ chức mở hai cửa nhưng đều không thông. Thấy phân đội đặc công gặp khó khăn, Trung đoàn trưởng lệnh cho Tiểu đoàn 37 tiến theo cửa mở của Tiểu đoàn 7, đánh chiếm các mục tiêu ở phía nam cứ điểm. Được hai xe tăng và B72 chi viện, phân đội chia làm hai mũi kết hợp với mũi vượt rào của Đại đội 19 đánh chiếm khu kho hỗn hợp, bãi xe, trận địa pháo. 11 giờ trưa ngày 24 tháng 4, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ 42. Lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh do đồng chí Phan Quyết - Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum trao cho Trung đoàn 66 trước lúc xuất quân, được đồng chí Nguyễn Xuân Hoà - Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, Đại đội 2, Tiểu đoàn 7 kéo lên phấp phới bay tại trung tâm cứ điểm. Buổi chiều, bọn chỉ huy Sư đoàn 22 trốn trong hầm ngầm cũng bị tiêu diệt và bắt toàn bộ. Sơ đồ diễn biễn chiến dịch Bắc Tây Nguyên - Ảnh Từ điển BKQS Việt Nam. Sau hơn 6 giờ tiến công, Trung đoàn 66 và các phân đội tăng cường đã xoá sổ căn cứ 42, giải phóng thị trấn Tân Cảnh; diệt gần 1000 tên địch (trong đó có tên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 22 nguỵ Đại tá Lê Đức Đạt và cố vấn Mỹ), bắt 429 tên (có Sư đoàn phó Đại tá Vi Văn Bình), bắn rơi 8 máy bay, thu và phá huỷ 100 xe các loại, 10 khẩu pháo lớn, hàng vạn đạn pháo và toàn bộ kho tàng, phương tiện chiến tranh trong căn cứ. Đây là lần đầu tiên ở Tây Nguyên ta dùng lực lượng hiệp đồng binh chủng mạnh tiến công một căn cứ lớn có công sự vững chắc nằm sâu trong tuyến phòng ngự cơ bản của địch, với tốc độ nhanh, giành thắng lợi trọn vẹn. Thắng lợi của trận then chốt quyết định đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc và phát triển nhảy vọt về trình độ tác chiến của bộ đội chủ lực Tây Nguyên, đồng thời kết thúc giai đoạn một chiến dịch. Khi bộ binh và xe tăng đánh chiếm căn cứ 42 tương đối thuận lợi, khả năng làm chủ cứ điểm đã rõ rệt. Bộ Tư lệnh tiền phương chiến dịch kịp thời ra lệnh cho pháo binh chuyển bắn vào Đắc Tô 2, chuyển thuộc 4 xe tăng và 1 cao xạ tự hành cho Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 47 làm chủ cứ điểm lúc 11 giờ 30 phút. Trong trận đánh này, Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển cùng kíp xe tăng số 377 lập kỷ lục xuất sắc, diệt 7 xe tăng địch rồi anh dũng hy sinh. Cùng thời gian này, Trung đoàn 141, Sư đoàn 2 được tăng cường xe tăng tiến công làm chủ quận lỵ Đắc Tô; Trung đoàn 400 đặc công đánh chiếm Diên Bình. Trung đoàn 66 làm chủ căn cứ 42, ngày 24/4/1972 - Ảnh TL Bảo tàng Binh đoàn Tây Nguyên. Căn cứ 42 bị tiêu diệt, Đắc Tô - Tân Cảnh được giải phóng đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở tây bắc Kon Tum, nhanh chóng kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt vị trí địch trong vùng. Hoảng sợ và vội vã, chúng rút khỏi Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Rinh Rua, Trí Lễ; các điểm cao 1338, 966, 1062. Sở chỉ huy Lữ đoàn dù 3 cũng rút khỏi Võ Định về thị xã Kon Tum. Nhưng quân tháo chạy và bọn đi đón đã bị Trung đoàn 28 diệt và bắt hàng trăm tên. Trong cảnh hỗn loạn và bị địch thúc ép, hàng nghìn dân bỏ chạy khỏi Đắc Tô, Tân Cảnh theo đường 14 về phía nam. Cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 28 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Thước, Chính uỷ Nguyễn Đằng và Trung đoàn phó Vũ Khắc Đua kịp thời bảo vệ, giúp đỡ dân tránh bom rơi đạn lạc, đưa hơn 400 người trở về khu dân cư an toàn, tổ chức cho hàng nghìn người đi thành đoàn tạo điều kiện về thị xã Kon Tum. Ngay khi Đắc Tô - Tân Cảnh được giải phóng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gửi điện khen ngợi cán bộ chiến sĩ vừa lập chiến công oanh liệt; đồng thời chỉ thị cho Bộ tư lệnh chiến dịch kiên quyết khắc phục khó khăn, hết sức tranh thủ thời gian, khẩn trương cơ động lực lượng thực hiện ngay “Nhiệm vụ trung tâm là tất cả để tranh thủ thời cơ giải phóng Kon Tum”. Danh Hiệp - Bảo tàng Binh đoàn Tây Nguyên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn