Chiến dịch Biên giới 1950
Chiến dịch Biên giới 1950
"Vùng biên giới Việt-Trung có thầm chiến lược quan trọng, có đường huyết mạch số 4 trải dài trên 300 km, chạy qua 3 tỉnh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh qua căn cứ địa Việt Bắc. Mùa hè năm 1950, ta dự kiến tấn công khu vực Tây Bắc, mở thông tuyến đường sát đi Vân Nam qua Lào Cai. Tuy nhiên, sau chuyến đi của Bắc Hồ sang Liên Xô và Trung Quốc, ta quyết định chuyển hướng chiến trường sang Đông Bắc. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch biên giới. Ngày 7 tháng 7, 1950, Bộ Tổng thư lệnh ra mệnh lệnh mở chiến dịch biên giới, lấy mật danh là Chiến dịch Lê Hồng Phong II, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa, củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cử làm bí thư đảng ủy, chỉ huy trưởng chiến dịch. Tướng Giáp quyết định sử dụng tập trung một lực lượng mạnh gồm Đại đoàn 308, Trung đoàn 174 và 209 cùng một số tiểu đoàn độc lập với nhiều đại đội pháo, công binh, bộ đội địa phương, dân công mở đường vận chuyển 4.000 tấn lương thực, vũ khí, quốc men phục vụ chiến dịch. Theo dự định bắt đầu, ""Ta sẽ mở màn tấn công địch ở Cao Bằng."" Nhiệm vụ này được giao cho Trung đoàn 174 của Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt. Tôi thi hành, tổ chức một cuộc điều tra quanh Cao Bằng. Cao Bằng nằm đây đi vòng quanh, buồn vẻ. Điều tra xong tôi về tôi báo cáo với anh Thái, không nhầm báo cáo với anh Văn là Cao Bằng khổ đánh. Nó bột trí hiếp trời lắm và địa hình rất nguy hiểm là xung quanh toàn là có danh đồi trọc. Ông Giáp đi trực tiếp với anh Cao Pha, ông ấy lên mấy cái đồi mà tôi xem, xung quanh các bạn đó ông bồi hết. Ông ngồi trong rồi ông về ông nói với ông Thái là cái thằng Việt nó nói đúng. Đánh Cao Bằng khổ. Tôi lên đường trước để mà xem tình hình. Thì đi lên thì tôi đã đi lên và đi quan sát trực tiếp là chỗ Nông Khê và Cao Bằng. Thì họ bán giấy hướng dịch và các đồng chí chủ đối, cán bộ tôi bảo cáo tình hình. Tôi thấy là tình hình như thế này muốn chắc thẳng là tôi nói chắc thẳng là đánh Nông Khê chứ không đánh Cao Bằng. Và quyết định là đánh Nông Khê.
Trung tuần tháng 9, Bắc Hồ lên đường, ra mặt trận. Người nghe báo cáo, kiểm tra công tác chuẩn bị, thị xác trận địa, động viên cán bộ, bộ đội và nhân dân. Đây là Sở Chỉ huy Tiền phương Chiến dịch Đông Khê, cũng là nơi Hồ Chủ tịch trực tiếp quan sát, chỉ đạo chiến dịch. Điều đó đã gây xúc động mạnh trong lòng cán bộ chiến sĩ, đặc biệt là với nhân dân các dân tộc cao bằng, khắp mặt trận nô nước thi đua, lập chiến công. Đông Khê là một cứ điểm mạnh, có vị trí quan trọng đối với tuyến biên giới Việt Trung. Trên thực tế, ta đã từng đánh Đông Khê nhưng không đạt kết quả. Nếu mà mất Đông Khê là nó uy hiếp tất cả cái khu vực biên giới. Vì vậy cho nên là Đại tướng Võ Nguyên Pháp quyết định đánh Đông Khê. Và khi Đông Khê bị thất thủ một cái thì lập tức là các nơi phải sông ra để mà cứu Đông Khê. Do đó cho nên ta thực hiện được cái ý định là đánh điểm để diệt biển. Đêm 16/9/1950, bộ đội chủ lực của ta pháo kích vào cứ điểm Đông Khê, mở màn cho chiến dịch. Pháo và hỏa lực mạnh của ta dồn dập tấn công vào mọn trong những cứ điểm mạnh nhất của Pháp trên đường số 4. Ngày nổ súng thì chúng tôi nổ súng đúng ngày, đúng giờ. Tôi đánh từ chiều hôm nay. Tôi đánh tối nay đến sáng mai, tôi liên lạc với HN-209 phối hợp. HN-209 đến từ Nam đến, tôi đánh từ Bắc xuống. Tại Đồn To, một trong những cứ điểm kiên cố nhất của cùng cứ điểm Đông Khê, nơi đây đã diễn ra trận chiến đấu ác liệt giữa ta và quân Pháp để không ảnh hưởng đến kế hoạch tấn công. Chiến sĩ La Văn Cầu, Trung đoàn 174 đã dũng cảm chặt đứt cánh tay bị thương của mình. Lúc đó là đồng chí, anh em chúng tôi là y sinh bị thương. Nhất là anh em bị thương nặng, lá liệt ở cái trạng đánh, cái mặt trạng ở đó, xung quanh tôi. Đâu như thế thì tôi nghĩ rằng là không có cách nào là khác là chỉ có chặt. Tôi nhờ đồng đội, đồng chí, tiểu đội trưởng non-bân phèo là chặt súc. Lúc này tôi lên nhanh lên cái lần thứ nhất. Lúc 10 giờ sáng, ngày 18 tháng 9, 1950, ta hoàn toàn thắng lợi làm chủ mặt trận Đông Khê. Tại mặt trận Cao Bằng, ta dùng đại liên tập kích sân bay Nà Cạn, phá hỏng một máy bay Dakota của địch. Tổng chỉ huy quân viễn trinh pháp ở Đông Dương, tướng Các Quang Trìe quyết định rút quân khỏi Cao Bằng Trên thực tế, kế hoạch rút khỏi Cao Bằng đã được Reve dự kiến từ năm 1949. Sau khi Đông Khê thất thủ, các băng chê điều binh đoàn Le Page từ Thất Khê lên chiếm lại Đông Khê. Điều binh đoàn Sarton từ Cao Bằng về Đông Khê. Bộ chỉ huy xác định tập trung lực lượng phục kích diệt Việt hai binh đoàn Le Paz và Sark Tong. Tuy nhiên, đã 10 ngày sau trận Đông Khê, địch vẫn án binh bất động, kế hoạch phục kích bắt đầu gặp khó khăn. Lúc đó 10 ngày địch không lên thì bộ đội rất nôn nóng. Và cũng nhiều cái phán đoán khác nhau. Có cái nó thì bảo rằng là có ý thì nói rằng là nó không dám lên nữa. Và trong cái khi chờ đợi như thế thì ta hết gạo. Thì nó lên vừa đúng lúc mà quân mình một nửa đi lấy gạo, còn một nửa ở lại sẵn sàng chiến đấu.
Ngày 1 tháng 10 1950, quân ta chặn đánh binh đoàn Lepage tại cửa ngõ phía nam Đông Khê. Ngày 7 tháng 10 1950, Lepage và toàn bộ binh đoàn bị bắt gọn. Ngày 3 tháng 10 1950, Charton đã đem 2.000 quân rút khỏi thị xã Cao Bằng theo đường số 4. Ngày 7 tháng 10, 1950, ta tiêu diệt binh đoàn Sarktong ở Cốc Xá. Sarktong và 20 sĩ quan xin đầu hàng. Chúng tôi rút về đến Cốc Xá thì bị bao vây. Ở đó là bức vách đá dựng đứng, bảo quanh là những thảm thực vật, cây cối tre phủ, và chúng tôi không thể sang bên kia được. Đây là khu vực Cốc Xá, nơi cả hai viên trung tá, chỉ huy binh đoàn Lepage và Sac-Tông, cùng hơn ba ngàn quân viễn chinh Pháp, bị bắt. Một thất bại chưa từng có của Pháp ở Đông Dương. Tuy nhiên, thảm họa chưa dừng ở đó. Ngày 18 tháng 10 1950, Đại tá Louis Constant, chỉ huy quân Pháp ở Làng Sơn đã rút chạy khỏi vị trí, bỏ lại toàn bộ vũ khí trang bị bất chấp lệnh tiêu hủy của Carpentier. Đấy là một khu vực địch bố trí. để bảo đảm hậu cần cho toàn khu vực Đông Bắc này cho nên rất nhiều. Theo như các đồng chí ở Bộ Quốc phòng nói thì số trang bị đó chúng ta thu được một đại đoàn có thể sử dụng hàng năm không hết. Chiến dịch biên giới toàn thắng ngày 14 tháng 10 năm 1950. Kết quả, ta đã đập tan hệ thống phòng thủ của địch trên Điều số 4, giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn với 350.000 dân, tiêu diệt làm bị thương và bắt sống trên 8.300 tên địch, gồm 10 tiểu đoàn, chiếm 41% lực lượng cơ động của Pháp ở Đông Dương. Cùng với chiến dịch biên giới tại mặt trận Bình Trị Thiên, ta mở chiến dịch Phan Định Phùng, giải phóng một vùng rộng lớn phía nam Quảng Bình. Ở Liên Khu 5, bộ đội ta liên tiếp diệt nhiều đồn địch ở Phước Thuận. Ở Tây Nguyên, Trung đoàn 120 chủ lực đánh thắng nhiều trận phục kích địch trên đường số 7. Ở Quảng Nam, Trung đoàn 210 đánh thắng nhiều trận phục kích trên tuyến đèo Hải Vân. Ở Nam Bộ ta mở nhiều chiến dịch nhỏ: Bến Cát ở Thu Dâu I, cầu Ngang ở Trà Vinh, đánh mạnh ở Long Châu Hậu.
Cuối năm 1950, Bác Hồ Dự và nói chuyện tại Hội nghị Tổng kết Chiến dịch Biên giới. Người khen ngợi lòng yêu nước của đồng bào, tinh thần hăng ái chiến đấu hy sinh anh dũng của các chiến sĩ. Bác cũng nhắc nhở, chớ chủ quan khinh địch, chúng ta còn phải đánh thắng nhiều trận, gây go hơn, to tát hơn nữa mới đi đến thắng lợi hoàn toàn."


