CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU – ĐÔNG 1950: 29 NGÀY ĐÊM MỞ CỬA BIÊN GIỚI
Mùa thu năm 1950, giữa núi rừng biên giới Việt – Trung, một chiến dịch lớn đã làm thay đổi cục diện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950 – chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam vào hệ thống phòng ngự của quân Pháp, mở ra một bước ngoặt quan trọng trên con đường đi đến thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Mùa thu năm 1950, giữa núi rừng biên giới Việt – Trung, một chiến dịch lớn đã làm thay đổi cục diện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950 – chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam vào hệ thống phòng ngự của quân Pháp, mở ra một bước ngoặt quan trọng trên con đường đi đến thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Sau chiến thắng Việt Bắc Thu – Đông 1947, lực lượng kháng chiến của ta từng bước trưởng thành. Bộ đội chủ lực phát triển nhanh, chiến tranh du kích được đẩy mạnh, phương thức tác chiến từng bước chuyển từ đánh nhỏ, đánh du kích sang những trận đánh tập trung với quy mô ngày càng lớn. Trong khi đó, thực dân Pháp ráo riết thực hiện Kế hoạch Rơ-ve, tìm cách khóa chặt biên giới Việt – Trung, cô lập căn cứ địa Việt Bắc và ngăn chặn sự liên lạc, chi viện từ bên ngoài.
Trong bối cảnh ấy, tháng 6/1950, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở một chiến dịch lớn trên tuyến biên giới Việt – Trung. Mục tiêu không chỉ là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mà còn giải phóng một phần biên giới, mở đường giao thông quốc tế, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc và tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến bước sang một giai đoạn mới.
Ngày 7/7/1950, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch tại khu vực Cao Bằng – Lạng Sơn, tập trung vào tuyến đường số 4, đặc biệt là khu vực Cao Bằng – Thất Khê. Chiến dịch mang mật danh Lê Hồng Phong II. Đây là lần đầu tiên quân đội ta sử dụng một lực lượng lớn, tương đương hai đại đoàn, để tiến hành một chiến dịch tiến công quy mô lớn. Ý nghĩa của chiến dịch đặc biệt quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chiến dịch này hết sức quan trọng, chỉ được thắng không được thua!”. Đằng sau lời căn dặn ấy là niềm tin, nhưng cũng là trách nhiệm nặng nề đặt lên vai những người lính đang chuẩn bị bước vào trận đánh lớn đầu tiên.
Ngày 27/7/1950, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch được thành lập. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được giao làm Bí thư Đảng ủy mặt trận, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch. Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, dân công và đồng bào các dân tộc Việt Bắc cùng hướng về mặt trận.
Tháng 8/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lên đường ra mặt trận. Giữa núi rừng Việt Bắc, Người cùng Bộ Chỉ huy nghiên cứu tình hình, bàn bạc kế hoạch tác chiến. Trên đường đi, Người thăm hỏi bộ đội, dân công, động viên đồng bào và những người đang ngày đêm góp sức cho chiến dịch.
Sau khi cân nhắc, Đảng ủy chiến dịch quyết định chọn Đông Khê làm nơi đánh trận mở màn. Đông Khê nằm trên đường số 4, là vị trí quan trọng trong hệ thống phòng thủ của quân Pháp. Nếu đánh chiếm được Đông Khê, quân ta có thể phá vỡ một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ Cao Bằng – Lạng Sơn và buộc quân Pháp phải đối phó theo cách mà ta đã chuẩn bị.
Sáng ngày 16/9/1950, những tiếng súng đầu tiên vang lên ở Đông Khê. Các đơn vị của ta đồng loạt tiến công cụm cứ điểm. Quân Pháp chống trả quyết liệt bằng hệ thống lô cốt, hầm hào và hỏa lực mạnh. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Những người lính phải vượt qua từng lớp công sự, từng ụ súng, từng đoạn địa hình hiểm trở dưới làn đạn của đối phương. Nhưng với quyết tâm cao, bộ đội ta liên tục tổ chức các đợt xung phong. Sau nhiều giờ chiến đấu, đến sáng ngày 18/9, toàn bộ cụm cứ điểm Đông Khê bị quân ta tiêu diệt.
Đông Khê thất thủ khiến Bộ chỉ huy quân Pháp rơi vào thế bị động. Để cứu vãn tình hình, quân Pháp tổ chức các binh đoàn tiến về Đông Khê nhằm chiếm lại vị trí này, đồng thời tìm cách đón quân từ Cao Bằng rút xuống. Đây chính là thời cơ để quân ta thực hiện đòn đánh quyết định.
Từ ngày 1 đến ngày 5/10, những trận chiến dữ dội diễn ra ở khu vực phía Nam và phía Tây Đông Khê. Binh đoàn Lơ Pa-giơ tiến lên nhưng không thể chiếm lại Đông Khê. Bị quân ta bao vây, chúng phải rút vào khu vực núi đá Cốc Xá để cố thủ và chờ lực lượng từ Cao Bằng tới ứng cứu.
Những ngày tiếp theo, Cốc Xá trở thành một trong những điểm chiến đấu ác liệt nhất của chiến dịch. Từ ngày 5 đến ngày 7/10, các đơn vị của ta liên tục công kích quân địch. Địa hình núi đá hiểm trở, hỏa lực địch mạnh, nhưng bộ đội vẫn kiên cường bám trận địa. Cuối cùng, lực lượng Lơ Pa-giơ bị đánh tan, phần lớn bị bắt.
Trong khi đó, ngày 7/10, binh đoàn Sác-tông từ Cao Bằng rút về cũng rơi vào thế bị quân ta bao vây tại khu vực điểm cao 477, cách Cốc Xá khoảng 3km. Ngày 8/10, lực lượng Pháp từ Thất Khê tiến lên ứng cứu cũng bị đánh tan. Các đơn vị Pháp lần lượt rút khỏi Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn và nhiều vị trí khác trên tuyến đường số 4. Từ một chiến dịch nhằm phá thế bao vây, quân ta đã chuyển sang thế chủ động tiến công, liên tiếp đánh vào những lực lượng cơ động của đối phương.
Ngày 14/10/1950, Chiến dịch Biên giới Thu – Đông kết thúc sau 29 ngày đêm chiến đấu. Đó không chỉ là 29 ngày của những trận đánh trên bản đồ quân sự. Đó còn là 29 ngày của những người lính vượt núi, băng rừng; của dân công gùi từng bao gạo, từng hòm đạn; của đồng bào các dân tộc Việt Bắc góp sức người, sức của cho tiền tuyến. Phía sau mỗi trận đánh là một hậu phương đang dõi theo, là những con đường núi rừng ngày đêm không ngừng vận chuyển lương thực, vũ khí và thương binh.
Chiến thắng Biên giới Thu – Đông 1950 đã đem lại những thay đổi lớn. Quân ta giải phóng một khu vực biên giới quan trọng từ Cao Bằng đến Đình Lập, phá vỡ hệ thống phòng thủ của quân Pháp trên đường số 4, làm thất bại âm mưu “khóa chặt biên giới Việt – Trung” và phá thế bao vây căn cứ địa Việt Bắc. Quan trọng hơn, cuộc kháng chiến từ đây chuyển sang một thế trận mới. Quân đội nhân dân Việt Nam lần đầu tiên tiến hành một chiến dịch tiến công quy mô lớn và giành thắng lợi. Qua chiến dịch, trình độ tổ chức, chỉ huy và tác chiến của bộ đội chủ lực được nâng lên rõ rệt.
Biên giới được khai thông. Việt Bắc được củng cố và mở rộng. Con đường liên lạc quốc tế được nối liền, tạo điều kiện để cuộc kháng chiến nhận được sự hỗ trợ về vật chất, vũ khí và kinh nghiệm từ các nước xã hội chủ nghĩa.
Nhưng có lẽ điều lớn nhất mà Chiến thắng Biên giới Thu – Đông 1950 mang lại chính là niềm tin. Niềm tin rằng một đội quân còn trẻ, trưởng thành từ những năm tháng gian khổ, hoàn toàn có thể đối đầu và đánh bại những đơn vị tinh nhuệ của quân đội Pháp. Niềm tin của người lính nơi chiến trường. Niềm tin của đồng bào nơi hậu phương. Và trên hết, đó là niềm tin của cả dân tộc vào con đường kháng chiến đã lựa chọn.
Sau Chiến dịch Biên giới, quân và dân ta tiếp tục giữ vững thế chủ động, tiến hành nhiều chiến dịch lớn trong những năm 1951 – 1953, rồi tiến tới cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 và đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Vì thế, khi nhắc đến mùa thu năm 1950, người ta không chỉ nhớ đến những trận đánh ở Đông Khê, Cốc Xá hay đường số 4. Người ta nhớ đến một mùa thu mà những người lính đã mở được cánh cửa biên giới bằng máu, mồ hôi và lòng quả cảm. 29 ngày đêm ấy đã trở thành một dấu mốc của “thời hoa lửa” – nơi mỗi bước chân người lính trên núi rừng biên giới đều góp phần đưa cuộc kháng chiến tiến gần hơn tới ngày đất nước giành lại độc lập.



