Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng
Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng
Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng (từ ngày 15/3 đến 30/4/1949), chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đánh vào tuyến phòng thủ đường 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, nhằm diệt sinh lực và triệt đường tiếp tế của địch trên vùng Đông Bắc, làm tan rã khối nguỵ quân, buộc địch phải rút khỏi Bắc Kạn.Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 trung đoàn bộ binh của Liên khu 1, 4 (28, 72, 74), 4 tiểu đoàn bộ binh (29, 35, 23 và 18), Tiểu đoàn pháo binh 410, 2 đại đội trợ chiến và một đại đội công binh của Bộ; Tổng tư lệnh Tiểu đoàn địa phương 517 và dân quân du kích ba tỉnh Cao-Bắc-Lạng. Chiến dịch được tổ chức thành ba mặt trận: Mặt trận đường số 4 (Mặt trận 4), Cao Bằng (Mặt trận 1) và Bắc Cạn (Mặt trận 1 Bis), trong đó chủ yếu là Mặt trận 4. Phối hợp với chiến dịch Cao-Bắc-Lạng là “Chiến dịch Đông Bắc” (Mặt trận 2), Trung Du (Mặt trận 3) và Liên khu 3 (Mặt trận đường số 5). Chiến dịch chia làm 2 đợt: Đợt 1 (từ 15/3 đến 24/4), 16 giờ ngày 15/3, bộ đội ta ở Đông Khê chặn đánh đoàn xe vận tải 96 chiếc từ Cao Bằng xuống làm thiệt hại một số, số còn lại phải dừng ở Đông Khê. 24 giờ 30 phút ngày 15/3, ta tiến công Na Sầm mở màn chiến dịch. Tuy không diệt được đồn Na Sầm nhưng trận đánh đã tạo điều kiện cho quân dân huyện Thoát Lãng phát động chiến tranh du kích, 1 giờ ngày 16/3, ta tiêu diệt đồn Bản Trại và Đèo Khách, phá sập cầu Bản Trại, đồng thời đánh phá vị trí Bông Lau và Thất Khê. Hai ngày 20 và 21/3, chủ lực ta chuyển sang đánh đồn Bản Ne và Nà Lèng làm cho các vị trí Pò Mã, Pò Piao (đông bắc Thất Khê) lung lay. Ngày 30/3 và 3/4, ta tiến đánh thị xã Lạng Sơn và trường bay Mai Pha. Ngày 10/4, ta phục kích tiêu diệt đoàn xe tiếp tế trên đường Đông Khê - Phục Hoà. Ngày 14 /4, ta tiến công thị xã Cao Bằng. Quân địch lúng túng đối phó khắp nơi phải rút bỏ vị trí Bình Nhi và Nà Mần. Chiến tranh du kích cũng phát triển từ Thoát Lãng đến Tràng Định, đánh trả địch trên đường số 4 và vây hãm các đồn bốt nhỏ, ngày nào địch cũng bị thương vong, cơ giới bị phá huỷ. Ngày 24/4, đợt 1 của chiến dịch kết thúc.
Lược đồ Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng
(từ ngày 15/3 đến 30/4/1949). Đợt 2 (từ 25 đến 30/4), Ngày 25, ta thực hiện trận phục kích lớn chặn đánh đoàn xe 114 chiếc trên đoạn Bông Lau - Lũng Phầy (15 km), phá huỷ 53 xe vận tải, diệt và bắt hơn 500 lính Âu-Phi, bắn hỏng hai máy bay, phá tan đồn Dốc Na (Lũng Phầy mới) của địch. Ngày 27/4, bộ đội ta ở Cao Bằng tiêu diệt đồn Bản Pát trên đường Cao Bằng - Trà Lĩnh. Ta phát động chiến tranh du kích ở khắp nơi. Các huyện Thoát Lãng, Tràng Định, Văn Uyên, Cao Lộc ngày nào cũng có trận phục kích nhỏ, đánh địa lôi (loại địa lôi chim sẻ), quấy rối địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại và ngày càng hoang mang. Ngày 30/4, địch buộc phải rút khỏi đồn Pò Mã và Pò Piao. Ta kết thúc chiến dịch. Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng đánh dấu bước tiến mới, về nghệ thuật nghi binh lừa địch, thu hút phân tán lực lượng chúng ra hướng khác, bảo đảm chắc thắng cho hướng chính; nghệ thuật điều hành chiến dịch, chọn đúng khu vực tiến công chủ yếu (Thất Khê-Na Sầm), đúng mục tiêu mở màn cũng như việc điều chỉnh lực lượng giữa đánh địch vận động và đánh địch trong vị trí, nhất là ở đợt 2. Ta đã giữ được quyền chủ động chiến dịch từ khi mở màn đến khi kết thúc. Ta tiêu diệt 4 vị trí, bức rút 6 vị trí, tiêu hao 9 vị trí, loại khỏi vòng chiến đấu 1400 địch; phá huỷ hơn 80 xe cơ giới, đánh hỏng 18 chiếc khác; đốt 3 kho và 498 thùng xăng; phá huỷ 2 kho lương thực, 2 kho vũ khí, bắn trọng thương 2 máy bay, phá huỷ 12 cầu, cắt 43.747 mét dây điện thoại, phá 24 quãng đường với 1324 hố chữ nhật. Ta thu 15 đại liên, 4 trọng liên 12,7mm, 18 trung liên, 11 súng cối, 2 súng chống cơ giới Pi-át và nhiều vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng. Ta hy sinh 50 người (có 3 dân thường), bị thương 150 người và hỏng 1 súng máy.
Lược đồ Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng(từ ngày 15/3 đến 30/4/1949). Đợt 2 (từ 25 đến 30/4), Ngày 25, ta thực hiện trận phục kích lớn chặn đánh đoàn xe 114 chiếc trên đoạn Bông Lau - Lũng Phầy (15 km), phá huỷ 53 xe vận tải, diệt và bắt hơn 500 lính Âu-Phi, bắn hỏng hai máy bay, phá tan đồn Dốc Na (Lũng Phầy mới) của địch. Ngày 27/4, bộ đội ta ở Cao Bằng tiêu diệt đồn Bản Pát trên đường Cao Bằng - Trà Lĩnh. Ta phát động chiến tranh du kích ở khắp nơi. Các huyện Thoát Lãng, Tràng Định, Văn Uyên, Cao Lộc ngày nào cũng có trận phục kích nhỏ, đánh địa lôi (loại địa lôi chim sẻ), quấy rối địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại và ngày càng hoang mang. Ngày 30/4, địch buộc phải rút khỏi đồn Pò Mã và Pò Piao. Ta kết thúc chiến dịch. Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng đánh dấu bước tiến mới, về nghệ thuật nghi binh lừa địch, thu hút phân tán lực lượng chúng ra hướng khác, bảo đảm chắc thắng cho hướng chính; nghệ thuật điều hành chiến dịch, chọn đúng khu vực tiến công chủ yếu (Thất Khê-Na Sầm), đúng mục tiêu mở màn cũng như việc điều chỉnh lực lượng giữa đánh địch vận động và đánh địch trong vị trí, nhất là ở đợt 2. Ta đã giữ được quyền chủ động chiến dịch từ khi mở màn đến khi kết thúc. Ta tiêu diệt 4 vị trí, bức rút 6 vị trí, tiêu hao 9 vị trí, loại khỏi vòng chiến đấu 1400 địch; phá huỷ hơn 80 xe cơ giới, đánh hỏng 18 chiếc khác; đốt 3 kho và 498 thùng xăng; phá huỷ 2 kho lương thực, 2 kho vũ khí, bắn trọng thương 2 máy bay, phá huỷ 12 cầu, cắt 43.747 mét dây điện thoại, phá 24 quãng đường với 1324 hố chữ nhật. Ta thu 15 đại liên, 4 trọng liên 12,7mm, 18 trung liên, 11 súng cối, 2 súng chống cơ giới Pi-át và nhiều vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng. Ta hy sinh 50 người (có 3 dân thường), bị thương 150 người và hỏng 1 súng máy.



