Chiến dịch đặc biệt
Cùng với các cánh quân trên bộ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, có một cánh quân mang sứ mệnh thiêng liêng, cao cả là tham gia Giải phóng Quần đảo Trường Sa.
Đầu năm 1975, chiến trường miền Nam phát triển nhanh, mạnh. Khắp các mặt trận, ta đều giành thắng lợi to lớn. Ngày 4/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký bức “mật điện” chuyển đến Khu ủy, Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Khu 5 và Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Trong bức mật lệnh số 990B/TK, gửi lúc 17 giờ 30, ngày 4/4/1975, cho đồng chí Võ Chí Công – Chính ủy và đồng chí Chu Huy Mân – Tư lệnh Quân khu 5, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng, nếu không hành động sớm sẽ bị nước khác đánh chiếm”.

Một tuần sau ngày Giải phóng thành phố Đà Nẵng (ngày 29/3/1975), Bộ Tư lệnh Quân khu triển khai các đơn vị: Tiểu đoàn Đặc công nước 471; Tiểu đoàn 4 bộ binh, Đại đội 14 phòng không, 1 bộ phận DKZ thuộc Trung đoàn 38 cùng 1 bộ phận hỏa lực của Trung đoàn 368 có nhiệm vụ phối hợp với Đoàn Đặc công 126 và Đoàn Vận tải 125 của Quân chủng Hải quân tổ chức lực lượng, tham gia chiến đấu, giải phóng Trường Sa (phiên hiệu Đoàn C75). Đồng chí Mai Năng làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Đoàn.
Trong ký ức của Thượng tá Phan Xuân Ạp – nguyên Phó trưởng Phòng Thi hành án Quân khu vẫn nhớ như in những ngày vượt sóng, lênh đênh trên biển. Ông kể: “Ngày 11/4/1975, các lực lượng rời Quân cảng Đà Nẵng trên 3 biên đội tàu Hải quân 673, 674 và 675. Khi ấy tôi là Chuẩn úy, Trợ lý Tác chiến Tiểu đoàn Đặc công nước 471. Các tàu của ta phải giả dạng tàu đánh cá. Tất cả cán bộ, chiến sĩ nằm dưới khoang tàu. Anh em thủy thủ mang mặc đồ ngư dân, ngụy trang ngư lưới cụ trên boong tàu nhằm tránh máy bay, tàu chiến ngụy trinh sát, bắn phá. Anh em Tiểu đoàn lúc này chưa từng được huấn luyện hay tác chiến biển đảo, nhưng với kinh nghiệm đánh địch trên sông nước, vùng biển gần bờ, ai nấy đều quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ trên hướng đặc biệt này”.

Cùng lúc này, Tiểu đoàn 2 và 1 bộ phận hỏa lực của Trung đoàn 95 (Sư đoàn 2) được lệnh tăng cường, phối hợp với lực lượng Hải quân rời cảng Cam Ranh (Khánh Hòa) cơ động tham gia giải phóng đảo Song Tử Tây. Rạng sáng 14/4/1975, mặc những cơn sóng to, lực lượng đặc công ta luồng lánh qua những rạn san hô, bãi đá ngầm, bí mật áp sát đảo Song Tử Tây. Sau loạt đạn DKZ làm ký ám tín hiệu, toàn đội hình ta đồng loạt tấn công địch. Đến 5 giờ 5 phút ta làm chủ hoàn toàn đảo. Chứng kiến lá Cờ Giải phóng tung bay giữa biển, trời xanh thẳm, khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của Tổ quốc Việt Nam, cán bộ, chiến sĩ ai nấy đều dậy lên lòng tự hào và niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng.
Lúc bấy giờ, địch vội vàng điều 2 tàu HQ-16 và HQ-402 từ Vũng Tàu ra phản kích. Nhưng trước sự phòng ngự chặt chẽ và tinh thần chiến đấu quả cảm, kiên cường của ta trên đảo, cộng với sự thất bại nặng nề trên đất liền, tàu địch không thể tiếp cận đảo. Chúng quay về tăng cường phòng thủ ở đảo Nam Yết – Nơi ngụy quyền Sài Gòn đặt trung tâm chỉ huy tại Quần đảo Trường Sa.

Nhận định tình hình có nhiều thuận lợi, Bộ Tư lệnh Hải quân và Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định mở đợt 2 giải phóng các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn trong 1 đêm, sau đó sẽ giải phóng đảo Trường Sa. Đồng thời, Bộ Tư lệnh Quân khu tăng cường lực lượng của Trung đoàn 2 (Sư đoàn 3 Sao Vàng) cơ động ra tham gia chốt giữ các đảo được giải phóng. Đêm 24/4/1975, Tàu 673 đưa bộ đội ta gần đến khu vực đảo Nam Yết thì phát hiện 1 chiếc khu trục của địch đang hoạt động. Để bảo đảm bảo bí mật, Tàu 673 quay về đảo Song Tử Tây chờ thời cơ. Cùng lúc này, Tàu 641 (được tăng cường sau này) đưa lực lượng đổ bộ cách đảo Sơn Ca khoảng 2 hải lý. Thời điểm ấy, thủy triều dâng cao, chảy mạnh, bộ đội khó tiếp cận mục tiêu. Bảo đảm an toàn cho trận đánh, Tàu 641 phải cơ động về phía Tây Bắc của đảo mới cho quân đổ bộ. 2 giờ 30 phút, ngày 25/4, ta đồng loạt tấn công. Địch trên đảo hoang mang, kháng cự yếu ớt. Sau 30 phút chiến đấu, quân ta làm chủ hoàn toàn đảo Sơn Ca. Lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên cột cờ giữa đảo.
Mất 2 đảo cộng với hệ thống phòng thủ trên đất liền xung quanh Sài Gòn liên tục bị chọc thủng, địch ở các đảo Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa hoang mang cực độ. 10 giờ 30 phút ngày 27/4, ta đổ bộ, chiếm đảo Nam Yết. Sau đó, 1 bộ phận ở lại tiếp quản, xây dựng đảo, một bộ phận khác tiếp tục vượt sóng giải phóng các đảo Sinh Tồn, đảo Trường Sa và đảo An Bang.
Quá hoảng sợ, địch ở đảo Sinh Tồn rút chạy từ sớm, nên ta đổ bộ, chiếm đảo khá thuận lợi. Sáng ngày 28/4, ta làm chủ đảo Sinh Tồn. Đến cuối ngày 28/4, Tàu 673 của ta tiến thẳng về phía đảo Trường Sa. 9 giờ ngày 29/4, ta hoàn toàn làm chủ đảo Trường Sa, đồng thời giải phóng đảo An Bang. Những ngày sau đó, các lực lượng tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao, củng cố, xây dựng các đảo; nhanh chóng triển khai lực lượng đóng giữ thêm 16 đảo, nâng tổng số lên 21 đảo với 33 điểm đóng quân. Một đại đội của Trung đoàn 95 (Sư đoàn 2) phối hợp với lực lượng Hải quân tiếp tục hành quân giải phóng huyện đảo Phú Quý và hoàn thành thắng lợi vẻ vang nhiệm vụ trong chiến dịch đặc biệt.

Giải phóng các đảo ở Quần đảo Trường Sa đã tạo điều kiện cho ta hình thành mũi bao vây, tiến công địch từ hướng biển. Cùng với mũi tiến công trên đất liền, đã ngăn chặn ngụy quyền Sài Gòn từ ngoài vào và từ đất liền ra, góp phần làm nên thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đồng thời, khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam đối với thế giới và làm thất bại âm mưu lấn chiếm đảo của một số nước.
Làm nên những chiến công chói lọi ấy, nhiều cán bộ, chiến sĩ ta đã phải đánh đổi bằng máu, xương. Có chiến sĩ hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Trong đó, anh hùng LLVT Tống Văn Quang – nguyên chiến sĩ Trung đoàn 38 đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trong trận giải phóng đảo Song Tử Tây (ngày 14/4/1975).
Quần đảo Trường Sa được giải phóng, Đoàn C75 tiếp tục ở lại, củng cố, xây dựng trận địa phòng thủ, giữ đảo. Tiểu đoàn Đặc công 471 được lệnh quay về Sài Gòn. “Mấy ngày sau, chúng tôi về đến Dinh Độc Lập mừng chiến thắng. Đồng đội tay nắm chặt tay, ôm nhau, vui mừng khôn xiết. Nước mắt cứ thế chực trào, giàn giụa trên từng gương mặt sạm đen của những người lính trận mạc. Hạnh phúc lắm, nhưng cũng đau buồn vô hạn với những đồng đội không được hưởng ngày hòa bình, thống nhất non sông” – Thượng tá Phan Xuân Ạp trải lòng.
HÀ THANH
http://baoquankhu5.vn/chien-dich-dac-biet/



