Bài viết

Chiến dịch đổ bộ đường biển Tà Lơn

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến dịch đổ bộ đường biển Tà Lơn

Chiến dịch đổ bộ đường biển Tà Lơn[1]là chiến công xuất sắc của Bộ đội Hải quân; biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam – Campuchia. Thắng lợi của Chiến dịch này đã góp phần bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biên giới, biển đảo Tây Nam của Tổ quốc, tăng cường thế và lực để Quân tình nguyện Việt Nam cùng lực lượng vũ trang cách mạng, nhân dân Cam-pu-chia giải phóng đất nước Chùa Tháp khỏi họa diệt chủng.Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước độc lập thống nhất cùng đi lên CNXH. Trong lúc quân và dân ta đang ra sức lao động sản xuất, ổn định và phát triển kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh thì tập đoàn phản động Pôn Pốt-Iêngxari liên tiếp đưa quân đánh chiếm, tàn sát đồng bào dọc tuyến biên giới dài gần 800km phía Tây Nam Tổ quốc gây nhiều đau thương cho nhân dân ta. Đến năm 1978, cuộc xung đột biên giới đã trở thành cuộc chiến tranh thực sự, với 19 Sư đoàn quân Pôn Pốt tiến công xâm lược, gây chiến tranh ở biên giới Tây Nam. Đầu năm 1979, Quân chủng Hải quân được giao nhiệm vụ mở hướng tiến công; tiêu diệt, kìm giữ một bộ phận lực lượng phòng thủ bờ biển của địch và phối hợp với bộ đội binh chủng hợp thành tác chiến trên hướng ven biển, đảm trách mũi tiến công vào cảng Công-pông-xom và quân cảng Ream. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Quân chủng Hải quân đã tiến hành nhiều hoạt động tác chiến bắt đầu từ ngày 6/1 đến ngày 30/5/1979 được gọi là Chiến dịch Tây Nam năm 1979, góp phần xoá sổ hoàn toàn lực lượng Hải quân Pôn Pốt, góp phần giải phóng thủ đô Phnôm Pênh, thành phố cảng Công-pông-xom, vùng biển, các hải đảo, các tỉnh ven biển của Campuchia. Chiến dịch này chính thức bắt đầu bằng hoạt động tác chiến đổ bộ bãi biển Tà Lơn (từ ngày 6 đến 10/01/1079). Ngày 5/1/1979, tại Sở chỉ huy tiền phương, Bộ Tư lệnh Hải quân chính thức giao nhiệm vụ cho các đơn vị: “Bí mật đánh chiếm bãi đổ bộ tại chân núi Tà Lơn, phong tỏa đường số 3 và 4, tiến đánh cảng Công-pông-xom, tiêu diệt lực lượng hải quân địch, ngăn chặn không cho tàu chúng từ quân cảng Ream,Công-pông-xom chạy ra biển, bảo vệ sườn trái đội hình đổ bộ của Lữ đoàn 126”. Lực lượng Hải quân ta gồm Lữ đoàn 101 và 126, Hạm đội 171, Lữ đoàn 125, Vùng 5 và một phần lực lượng của Vùng 4 đã được điều động bổ sung cho Vùng 5. Lữ đoàn 101 có nhiệm vụ tham gia đổ bộ lên bãi Tà Lơn, hiệp đồng với các lực lượng của Vùng 5 và Quân chủng Hải quân, giải phóng cảng Công-pông-xom, cảng quân sự Ream. Lữ đoàn sử dụng Tiểu đoàn 6, Tiểu đoàn 8 và Đại đội 5, thuộc Tiểu đoàn 4 làm nhiệm vụ đánh cảng Ream; hai Tiểu đoàn pháo binh 21 và 22 bắn chi viện cho các đơn vị đánh chiếm mục tiêu[2].
Khẩu đội pháo 130 ly, Tiểu đoàn 21, Lữ đoàn 101, Vùng 5 Hải quân bắn chế áp chi viện cho các lực lượng đổ bộ bãi biển Tà Lơn, tiến công giải phóng cảng Công Pông Xom, trong chiến dịch Tây Nam, năm 1979. Ảnh TL Bãi đổ bộ Tà Lơn thuộc tỉnh Kampot, Campuchia nằm ở phía bắc đảo Phú Quốc của Việt Nam, cách thị xã Kampot (Campuchia) 20km về phía đông, cách cảng Công-pông-xom 90km về phía Tây. Phía Bắc là dãy núi cao Tà Lơn, phía Nam là biển. Đường quốc lộ số 3 nối với đường quốc lộ số 4 chạy sát ven biển là con đường duy nhất nối thị xã Kampot và cảng Công-pông-xom. Đổ bộ thành công là Hải quân Nhân dân Việt Nam sẽ cắt đứt được con đường huyết mạch phía đông Nam Campuchia. Phạm vi bãi đổ bộ Tà Lơn dài khoảng 300m, có nhiều bãi sú vẹt, cát, bùn, xen lẫn đá ngầm. Độ sâu sát mép nước trở ra không đồng đều từ 1m - 2m, biên độ thuỷ triều chênh lệch từ 0,5 - 1m. Đây là những điểm gây khó khăn cho lực lượng tàu đổ bộ của ta. Theo kế hoạch, ta sẽ sử dụng đặc công bí mật tiềm nhập đánh chiếm bãi đổ bộ. Sau khi đổ bộ thành công, hải quân đánh bộ sẽ sử dụng tăng - thiết giáp và xe tải nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu trên quốc lộ và các mục tiêu được giao, phối hợp cùng Sư đoàn bộ binh 325 đánh chiếm cảng Công-pông-xom và quân cảng Ream. Đêm 5/1/1979, phân đội đặc công thứ hai gồm 54 chiến sĩ cũng đã xâm nhập thành công.
Tàu HQ-501, thuộc Hạm đội 171 tiến vào khu vực đổ bộ giải phóng đảo KoKong, sáng 6/1/1979. Ảnh TL 10 giờ 30 phút ngày 6/1, toàn bộ lực lượng tham gia đợt 1 chiến dịch được lệnh xuất phát. 19 giờ, các chiến sĩ đổ bộ đã đến sát chân núi Tà Lơn. Phát hiện được tàu ta, địch dùng pháo 105mm ở trận địa Đông Bắc bắn ra, làm nhiều cột nước tung lên phía trước các tàu đổ bộ. Khi pháo địch vừa bắn, lực lượng đặc công của ta bí mật đổ bộ từ các đêm 4 và 5/1 đã bố trí sẵn ở quanh trận địa lập tức nổ súng tiến công, buộc địch phải bỏ cả pháo đạn chạy trốn. Sau khi làm chủ trận địa pháo bộ đội Đặc công lần lượt đánh chiếm các trận địa hỏa lực khác để bảo vệ an toàn cho quân đổ bộ. (21 giờ 37 phút, các trận địa pháo tầm xa 130 ly của Tiểu đoàn 21 trên đảo Phú Quốc và pháo 105 ly của Tiểu đoàn 22 trên Hòn Dốc đồng loạt bắn chế áp vào trận địa hỏa lực địch ở các đảo Hòn Nước, An Tây, Tre Mắn, Keo Ngựa, Kiến Vàng, Phú Dự, chi viện và bảo vệ lực lượng đổ bộ, đồng thời bắn phá ngã ba Kô Ky, ngăn không cho địch điều lực lượng đến chi viện cho Tà Lơn[3]. Đến trưa 7/1, lần lượt các Tiểu đoàn 6 và 8 của Lữ đoàn 101 đổ quân lên bãi Tà Lơn để chốt giữ đầu cầu cho các đơn vị của Lữ đoàn 126 phát triển lên phía trước. Cuộc đổ bộ quy mô của hai Lữ đoàn 101 và 126 lên bãi Tà Lơn cơ bản thành công. Ngày 8/1, sau khi toàn bộ lực lượng đánh bộ được đổ lên bờ, quân ta có pháo chi viện và có xe tăng, thiết giáp hỗ trợ đã đột kích nhanh chóng trên trục đường số 3 về hướng Công-pông-xom. Đêm 9/1/1979, Hạm đội 171 đánh vào Công-pông-xom và Ream. 3 tiểu đoàn bộ binh của Vùng 5 từ Tàu 05 và 07 thực hiện nhiệm vụ đổ bộ lên hai cảng. Tại cảng Ream, địch còn nhiều lực lượng nên chúng phản ứng mạnh. Hạm đội 171 đã dùng Tàu 05 và 07 chi viện hỏa lực cho 2 tàu PCF chở Đại đội 5, Tiểu đoàn 4 của Lữ đoàn 101vừa chiến đấu vừa tiến vào cảng cùng 1 đại đội bộ binh cơ giới của Sư đoàn 304. Đến ngày 10/1/1979, Hải quân ta đã hoàn thành đổ bộ, tiến công giải phóng Công-pông-xom và cảng Ream, đạt được mục tiêu chiến dịch đặt ra. Chiến dịch thành công đã tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng các đảo KoKong, Polovai và thị xã KoKong, giải phóng hoàn toàn vùng ven biển phía Nam Campuchia và truy quét tàn quân địch trên bộ đến ngày 30/5/1979. Sau 4 ngày hiệp đồng cũng như độc lập chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 6, Đại đội 5, Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 8, cùng 2 Tiểu đoàn pháo binh 21 và 22 – Lữ đoàn 101 Hải quân đã nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng nhanh chóng khẩn trương, vượt qua khó khăn, ác liệt, dũng cảm chiến đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần cùng với các lực lượng của Quân chủng hoàn thành thắng lợi mục tiêu của chiến dịch.[4] Lần đầu tiên Hải quân nhân dân Việt Nam tổ chức chiến dịch đổ bộ hiệp đồng nhiều lực lượng, đã giải phóng một phần vùng biển Campuchia và cùng lực lượng bộ binh của Binh đoàn Hương Giang tiến đánh và giải phóng cảng Công Pông Xom và Ream, tiêu diệt làm tan rã cơ bản lực lượng hải quân địch, buộc số còn lại phải tháo chạy về Cô Công, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch toàn thắng và thu được nhiều kinh nghiệm quý báu. Trong thời gian tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, Lữ đoàn 101 Hải quân đã được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVTND và được Nhà nước Campuchia tặng thưởng 2 Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất. Vỏ viên đạn pháo 130 ly

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chiến dịch đổ bộ đường biển Tà Lơn | Câu chuyện thời hoa lửa