CHIẾN DỊCH "KỴ TUYẾN, BẠT ĐIỂM" VÀ THẾ TRẬN PHÒNG NGỰ TẠI CAO ĐIỂM 1509 (THÁNG 4/1984) (Hồi ức chiến tranh Vị Xuyên)
Sau cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979, tình hình biên giới phía Bắc vẫn luôn trong trạng thái căng thẳng tột độ. Tuy nhiên, bước sang đầu hè năm 1984, mặt trận Vị Xuyên (tỉnh Hà Tuyên) mới thực sự bùng nổ thành chiến trường nóng bỏng và khốc liệt nhất. Phía Trung Quốc đã huy động lực lượng lớn, mở cuộc tiến công xâm lược quy mô vào lãnh thổ Việt Nam với tên gọi chiến dịch chiến lược: "Kỵ tuyến, bạt điểm" (đứng trên tuyến biên giới, đánh chiếm các điểm cao).
CHIẾN DỊCH "KỴ TUYẾN, BẠT ĐIỂM" VÀ THẾ TRẬN PHÒNG NGỰ TẠI CAO ĐIỂM 1509 (THÁNG 4/1984) (Hồi ức chiến tranh Vị Xuyên)
I. Cơn mưa pháo kích và Chiến dịch "Kỵ tuyến, bạt điểm"
Sau cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979, tình hình biên giới phía Bắc vẫn luôn trong trạng thái căng thẳng tột độ. Tuy nhiên, bước sang đầu hè năm 1984, mặt trận Vị Xuyên (tỉnh Hà Tuyên) mới thực sự bùng nổ thành chiến trường nóng bỏng và khốc liệt nhất. Phía Trung Quốc đã huy động lực lượng lớn, mở cuộc tiến công xâm lược quy mô vào lãnh thổ Việt Nam với tên gọi chiến dịch chiến lược: "Kỵ tuyến, bạt điểm" (đứng trên tuyến biên giới, đánh chiếm các điểm cao).
Mở màn cho chiến dịch này là một đợt pháo kích quy mô khổng lồ và kéo dài suốt nhiều tuần lễ. Bắt đầu từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 28 tháng 4 năm 1984, các trận địa pháo binh của đối phương dồn dập trút mưa đạn xuống dải đất biên giới Việt Nam. Tính chung trên toàn tuyến, đối phương đã bắn hơn 28.000 viên đạn pháo.
Riêng tại khu vực biên giới huyện Vị Xuyên, mật độ đạn pháo đạt đến mức khủng khiếp khi tập trung hơn 11.000 quả đạn pháo các loại. Tiếng nổ cày xới khắp các mỏm núi đá, phá hủy các công sự, giao thông hào và làm biến dạng hoàn toàn địa hình của các xã biên giới. Đạn pháo hạng nặng không chỉ tập trung vào tuyến phòng ngự sát biên giới mà còn bắn phá ác liệt, vươn sâu vào nội địa, đánh phá trực tiếp tới tận thị xã Hà Giang nhằm khống chế các tuyến đường giao thông, ngăn chặn lực lượng tiếp viện và hậu cần của ta từ tuyến sau cơ động lên mặt trận.
II. Tương quan lực lượng gay gắt trước giờ G (Sáng ngày 28/4/1984)
Đằng sau cơn mưa pháo kích dữ dội kéo dài suốt 26 ngày đêm là sự chuẩn bị rầm rộ về binh lực của phía Trung Quốc nhằm đè bẹp tuyến phòng ngự của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
1. Về phía Trung Quốc: Từ tháng 1 năm 1984, đối phương đã âm thầm và gấp rút điều động một lực lượng binh lực khổng lồ áp sát biên giới tỉnh Hà Tuyên:
Bộ binh: Tập trung tới 5 sư đoàn bộ binh. Trong đó, bố trí trực tiếp đối diện với địa bàn huyện Vị Xuyên là 3 sư đoàn bộ binh thuộc Quân đoàn 14; đối diện với huyện Yên Minh là 1 sư đoàn bộ binh cùng một số đơn vị biên phòng.
Pháo binh: Điều động 5 trung đoàn pháo binh trang bị pháo hạng nặng và pháo phóng loạt bố trí dày đặc trên các dải núi cao bên kia biên giới, sẵn sàng nhả đạn chi viện trực tiếp cho các cánh quân bộ binh tràn sang.
2. Về phía Việt Nam: Tính đến trước thời điểm diễn ra trận tiến công lịch sử ngày 28 tháng 4 năm 1984, lực lượng phòng ngự chốt giữ trên tuyến biên giới Vị Xuyên của ta mỏng hơn đối phương rất nhiều. Trọng trách bảo vệ dải biên cương này được giao cho Sư đoàn 313:
Hướng Tây sông Lô: Do Trung đoàn 122 (thuộc Sư đoàn 313) đảm nhiệm phòng ngự. Trung đoàn bố trí lực lượng rải rác chốt giữ trên chuỗi các điểm cao chiến lược then chốt gồm: 1509, 772, 685, 233, 266.
Hướng Đông sông Lô: Do Trung đoàn 266 (thuộc Sư đoàn 313) đảm nhiệm phòng ngự. Trung đoàn phân tán lực lượng chốt giữ các cao điểm 1030, 840, Si Ca Lá và khu vực Pa Hán.
Sự chênh lệch quá lớn về quân số (1 sư đoàn phòng ngự đối đầu với 5 sư đoàn tấn công) cùng hỏa lực pháo binh áp đảo đã đặt các đơn vị chốt giữ của Việt Nam vào một thử thách vô cùng khắc nghiệt trước giờ G.
III. Bố trí thế trận phòng ngự trên điểm cao chiến lược 1509
Trong hệ thống các cao điểm trên tuyến biên giới Tây sông Lô, Cao điểm 1509 giữ một vai trò đặc biệt quan trọng về mặt quân sự và chiến thuật. Đây là điểm phân chia ranh giới tự nhiên giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu đối phương chiếm được 1509, họ sẽ làm chủ hoàn toàn khống chế không gian toàn bộ khu vực kéo dài tới tận Bắc suối Thanh Thủy, tạo bàn đạp cực kỳ thuận lợi để lấn sâu vào nội địa Việt Nam.
1. Đặc điểm địa hình Cao điểm 1509: Trước khi chiến sự nổ ra, khu vực này là rừng rậm nguyên sinh xen lẫn núi đá hiểm trở. Địa hình của Cao điểm 1509 được chia làm 3 mỏm chính:
Mỏm 1 (Đỉnh 1509): Là đỉnh núi cao nhất và quan trọng nhất.
Mỏm 2 (Đồi Cây Khó): Nằm ở vị trí nhô ra phía trước.
Mỏm 3 (Bình độ 1450): Nằm ở lớp phòng ngự phía sau, kết nối các tuyến chốt.
2. Bố trí thế trận của ta: Nhận thức rõ giá trị chiến lược của cao điểm này, ta đã bố trí lực lượng chốt giữ thuộc Đại đội 6 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 122, Sư đoàn 313). Lực lượng bộ binh được tăng cường thêm hỏa lực mạnh bao gồm: 1 trung đội súng cối 82mm, 1 khẩu đội súng máy 12,7mm và 1 khẩu đội DKZ 82mm. Bên cạnh đó, trên đỉnh 1509 còn có sự phối hợp của đài trinh sát pháo binh và trinh sát bộ binh để làm nhiệm vụ quan sát, chỉ thị mục tiêu.
Sự phân công nhiệm vụ chi tiết trên 3 mỏm của Cao điểm 1509 được triển khai cụ thể như sau:
Tại Mỏm 1 (Đỉnh 1509): Lực lượng nòng cốt gồm Trung đội 3 phối hợp cùng 1 khẩu súng máy 12,7mm, 1 khẩu DKZ 82mm, 1 tiểu đội đại liên và 1 tiểu đội cối 60mm. Đây là điểm chốt chặn then chốt nhất, chịu trách nhiệm hướng tiến công chủ yếu của địch.
Tại Mỏm 2 (Đồi Cây Khó): Do Trung đội 1 xây dựng công sự kiên cố và trực tiếp chốt giữ phòng ngự.
Tại Mỏm 3 (Bình độ 1450): Do Trung đội 2 làm nhiệm vụ phòng ngự, sẵn sàng chi viện cho mỏm 1 và mỏm 2 khi bị tấn công.
Cũng chính vì đánh giá đúng tầm quan trọng sống còn của Cao điểm 1509, quân Trung Quốc đã quyết định sử dụng tới 2 tiểu đoàn bộ binh tăng cường, được chi viện hỏa lực pháo binh tối đa, quyết tâm đánh chiếm bằng được cao điểm này ngay trong đợt tiến công mở màn rạng sáng ngày 28 tháng 4 năm 1984.



