Chiến dịch Lê Lợi và Lê Lai (1949 - 1950)
Tác giả: Phạm Thị Phương Anh
Vào thời điểm cuối năm 1949, trên địa bàn tác chiến chủ lực tại Bắc Bộ, lực lượng quân dân Việt Nam đã phát động Chiến dịch Lê Lợi. Lực lượng ta chủ động tổ chức các đợt tiến công đối phương tại Hòa Bình, đồng thời gia tăng áp lực quân sự trên hàng loạt địa bàn khác như Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc.
Để phối hợp nhịp nhàng với cục diện Chiến dịch Lê Lợi, Liên khu ủy cùng Bộ Tư lệnh Liên khu 4 đã đưa ra quyết định triển khai Chiến dịch Lê Lai tại vùng Bình - Trị - Thiên. Mùa chiến dịch này được thiết lập nhằm đạt được các mục tiêu trọng yếu: kìm chân các đơn vị cơ động của quân Pháp không cho cơ động chi viện ra miền Bắc, tiêu hao một phần sinh lực đối phương, đồng thời củng cố và phát triển căn cứ địa cách mạng tại khu vực đồng bằng. Địa bàn tác chiến trọng điểm của chiến dịch nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Bình và phía Bắc tỉnh Quảng Trị.
Vào giữa năm 1949, quân Pháp tại Quảng Bình sở hữu lực lượng khoảng 4.000 quân. Trong quá trình ráo riết thực thi "Kế hoạch Rơ-ve", địch đã thiết lập hệ thống phòng thủ gồm 45 đồn bốt. Với mạng lưới căn cứ dày đặc liên hoàn này, Pháp tham vọng bịt kín các tuyến đường tiến vào chiến khu và đe dọa trực tiếp các hành lang giao thông vận tải của ta ở phía Tây. Tại khu vực đồng bằng và vùng địch tạm chiếm, thực dân Pháp tăng cường các đợt càn quét, phục kích trên khắp nẻo đường nhằm lùng bắt cán bộ cách mạng và cướp đoạt tài sản, lương thực của nhân dân.
Về phía lực lượng cách mạng, tháng 10 năm 1949, chấp hành chỉ thị từ Bộ, Liên khu 4 đã thành lập "Mặt trận Bình - Trị - Thiên". Lực lượng chủ lực tham chiến bao gồm ba trung đoàn bộ binh (18, 95 và 101), Tiểu đoàn Công pháo 888, Đại đội Quân báo và Đại đội Thông tin. Về lực lượng vũ trang địa phương, ta huy động ba đại đội bộ đội địa phương cùng lực lượng dân quân du kích của ba tỉnh trong khu vực. Ngoài ra, cấp trên còn bổ sung thêm Trung đoàn 57 trực tiếp tham gia chiến dịch.
Tác chiến chiến dịch được chia làm hai đợt rõ rệt:
Đợt 1 (Từ ngày 22/12 đến ngày 31/12/1949):
Đêm 22/12, Trung đoàn 18 được tăng cường một đại đội phóng bom đã kết hợp với lực lượng địa phương công kích đồn Vạn Xuân nhưng không giành được thắng lợi. Đơn vị nhanh chóng chuyển sang phương án bao vây và bố trí lực lượng chặn đánh quân viện.
Đến dịp Giáng sinh (25/12), Thiếu tá Lebrouse - Chỉ huy Phân khu Nam Quảng Bình - trực tiếp dẫn dắt 2 đại đội lính Âu - Phi cùng 1 trung đội trợ chiến xuất phát từ Đồng Hới di chuyển vào Hòa Luật để hợp binh giải vây cho Vạn Xuân. Lúc 18 giờ chiều, khi quân địch tiến tới Thạch Xá Hạ đã rơi trúng trận địa phục kích của Tiểu đoàn 227 thuộc Trung đoàn 95. Quân ta bất ngờ nổ súng, hạ gục và bắt gọn toán quân này. Kết quả, ta diệt và làm bị thương 30 tên, bắt sống 50 tù binh (bao gồm Thiếu tá Lebrouse, 1 Đại úy và 2 Trung úy), thu giữ 60 khẩu súng, 2 máy vô tuyến điện và phá hủy 7 xe quân sự.
Đến ngày 30/12, Tướng Lebritte buộc phải hạ lệnh cho quân sĩ rút khỏi đồn Vạn Xuân, kéo theo sự rút lui tiếp đó ở đồn Thượng Lâm. Thắng lợi này giúp mở rộng vùng tự do của ta, giải phóng toàn bộ khu vực phía Tây sông Kiến Giang thuộc huyện Lệ Thủy.
Ngày 31/12, nhờ làm tốt công tác vận động tuyên truyền, binh lính Vệ binh đoàn tại đồn Cổ Hiền đã nổi dậy binh biến, tiêu diệt 3 sĩ quan Pháp rồi mang toàn bộ trang bị vũ khí trở về với lực lượng kháng chiến. Sự kiện này tạo hiệu ứng tâm lý tích cực đến binh lính ngụy ở các đồn bốt khác. Trong những ngày sau đó, quân ta thừa thắng tiến công tiêu diệt đồn Đôn Sa, đồng thời bao vây ép địch phải rút chạy khỏi đồn Phú Hòa.
Trong khoảng thời gian từ 13/12/1949 đến 15/01/1950, Trung đoàn 57 liên tục giáng trả các vị trí trọng yếu thuộc tuyến phòng thủ sông Gianh của địch như Đại Nam, Hòa Ninh, Hướng Phương, Đơn Sa, Phù Kinh, qua đó giải phóng một vùng đai rộng lớn ở hai bờ Nam - Bắc sông Gianh.
Ở phía Nam, trước sự co cụm không dám ra ngoài của địch, hai Trung đoàn 95 và 18 chấp hành lệnh của Bộ Tư lệnh đã phối hợp với lực lượng địa phương tiến hành đợt tổng phá tề trên địa bàn Nam Quảng Bình. Phong trào kháng chiến tại các thôn xã bùng nổ mạnh mẽ và vững chắc, trở thành mô hình điển hình của Bình - Trị - Thiên và toàn quốc.
Đợt 2 (Từ ngày 15/01 đến ngày 27/01/1950):
Ngày 27/01, phía Pháp huy động lực lượng ứng chiến mở đợt hành quân đường thủy đánh vào khu vực đồng bào Công giáo mà ta vừa giải phóng. Nắm chắc ý đồ của địch, Trung đoàn 57 cùng lực lượng địa phương đã giăng sẵn trận địa phục kích tại bến đò Phù Trịnh và La Hà.
Vào lúc 8 giờ sáng, quân địch lọt trọn vào trận địa. Quân ta lập tức nổ súng, pháo binh địch từ các căn cứ xung quanh như Tiên Lệ, Ba Đồn khai hỏa ứng cứu. Địch đi trên 4 ca-nô cố gắng củng cố đội hình phản công nhưng bị quân ta đánh trả vô cùng dữ dội. Toàn bộ tiểu đoàn địch bị đập tan, hơn 120 tên bị tiêu diệt, ta bắt sống 10 tù binh Pháp cùng một số tay sai dẫn đường, 4 chiếc ca-nô bị hư hỏng nặng. Tàn quân địch tháo chạy về Thanh Khê, bỏ lại hàng trăm khẩu súng.
Dưới áp lực tấn công của ta, quân Pháp tiếp tục phải tháo chạy khỏi hàng loạt căn cứ chiếm đóng gồm Troóc, Cổ Giang, Cao Lao, Tiên Lệ; quân ta hạ tiếp ba đồn hương vệ tại Phù Kinh, Hòa Bình và Hướng Phương.
Sáng 27/01, hai Trung đoàn 95 và 101 hành quân tới Hương Trà (Thừa Thiên). Chớp thời cơ này, Pháp tập trung 3 tiểu đoàn tại Triệu Phong và Hải Lăng (Quảng Trị) mở đợt càn quét vào các xã Lương Mai, Phò Trạch, Phong Chương, Phong Lai, Vân Trình...
Lực lượng vũ trang địa phương đã kiên cường tổ chức đánh trả. Được sự đồng ý của cấp trên, hai trung đoàn lập tức thần tốc quay trở lại địa bàn Triệu Phong và Hải Lăng. Địch huy động máy bay không kích dữ dội vào đội hình ta. Đến tối 27/01, không thể chịu nổi đòn phản công dũng mãnh từ hai trung đoàn, quân Pháp phải hủy bỏ cuộc càn quét, lợi dụng đêm tối tháo chạy về Huế. Trong đợt này, ta diệt và bắt sống gần 400 tên địch, thu giữ hơn 50 khẩu súng các loại. Những chiến thắng tại Lương Mai, Phò Trạch, Lê Thuyết đã khép lại thắng lợi rực rỡ của Chiến dịch Lê Lai.


