Bài viết

Chiến dịch Mùa Xuân 1975

Ninh Bình29/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến dịch mùa Xuân năm 1975, hay Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam,[1] là những cuộc tấn công quân sự cuối cùng của Quân Giải phóng trong Chiến tranh Việt Nam.

Chiến dịch bắt đầu từ ngày 4 tháng 3 và kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngoài Trận Phước Long được coi là trận đánh trinh sát chiến lược, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 gồm ba chiến dịch lớn liên tiếp nhau:

  1. Chiến dịch Tây Nguyên (4 - 24 tháng 3)

  • Chiến dịch Giải phóng Huế - Đà Nẵng (21 - 29 tháng 3)

  • Chiến dịch Hồ Chí Minh (26 - 30 tháng 4).

  • Đồng thời, cùng trong thời gian này còn có những chiến dịch nhỏ hơn diễn ra trên những địa bàn quân sự chiến lược như: Long Khánh - Xuân Lộc, Trường Sa và các đảo trên Biển Đông, các trận đánh trên các tuyến phòng thủ từ xa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa như Tây Ninh - An Lộc - Dầu Tiếng, Phan Rang - Ninh Thuận...

    Những chiến dịch trên được thực hiện sau khi Hoa Kỳ đã rút quân viễn chinh khỏi Việt Nam, chỉ còn duy trì viện trợ và lực lượng cố vấn. Cán cân lực lượng đã nghiêng sang phía lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Kết quả thắng lợi quân sự của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong chiến dịch này đã dẫn đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc Chiến tranh Việt Nam.

    Lực lượng các bênCác đơn vị chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam
    • Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) tham gia giai đoạn cuối chiến dịch gồm: các sư đoàn bộ binh 312, 390, sư đoàn phòng không 367, lữ đoàn 202 tăng thiết giáp, trung đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, trung đoàn thông tin.[12]

  • Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sư đoàn bộ binh 304, 325, 324, sư đoàn phòng không 673, lữ đoàn xe tăng 203, lữ đoàn pháo binh 164, trung đoàn đặc công 116, trung đoàn thông tin.[13]

  • Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sư đoàn bộ binh 2, 10, 316, 320A, trung đoàn xe tăng 273, các trung đoàn pháo binh 40 và 575, trung đoàn đặc công 198, các trung đoàn phòng không 232, 234 và 593, các trung đoàn công binh 7 và 576, trung đoàn thông tin.[14]

  • Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sư đoàn bộ binh 5, 7, 9, các trung đoàn pháo binh 24, trung đoàn đặc công 429, trung đoàn phòng không 71, trung đoàn công binh 25, trung đoàn thông tin, trung đoàn 26 tăng thiết giáp. Quân đoàn này trước khi đánh Xuân Lộc có tổng quân số 35.112 người, trong đó, quân số trực tiếp chiến đấu 29.034 người[15]

  • Đoàn 232 tham gia giai đoạn cuối chiến dịch gồm: sư đoàn bộ binh Phước Long, 3 trung đoàn chủ lực khu VIII, 2 trung đoàn chủ lực khu IX.

  • Các trung đoàn không quân vận tải 918 và 919.

  • Các hải đoàn 124, 125, 126 Hải quân.

  • Các quân khu và Đoàn 559xtsChiến tranh Việt Nam
    • Sư đoàn 3 Sao Vàng (Khu V)

  • Sư đoàn 341 (Quân khu IV)

  • Sư đoàn 6 (quân khu VII)

  • Sư đoàn 8 (quân khu VIII)

  • Sư đoàn đặc công (chính ủy Lê Bá Ước)

  • Trung đoàn bộ binh 271 (Quân khu IV)

  • Trung đoàn bộ binh 46 (Quân khu III)

  • Trung đoàn An ninh vũ trang thuộc Bộ tư lệnh Miền.

  • Trung đoàn Gia Định

  • 2 sư đoàn ô tô vận tải 471, 571

  • 3 trung công binh 472, 473, 565

  • 4 trung đoàn cao xạ

  • 3 trung đoàn đường ống xăng dầu

  • Lữ đoàn hải quân đánh bộ 171 (chiến đấu tại các đảo trên vịnh Thái Lan)

  • Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 126 (chiến đấu tại Trường Sa)

  • Lữ đoàn hải quân vận tải 125 (chiến đấu tại Trường Sa)

  • Đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn) gồm:

    • Sư đoàn 968 (Đoàn 559)

  • Sư đoàn phòng không 377 (Đoàn 559)

  • Trung công binh 470.

  • 2 trung đoàn cao xạ độc lập.

  • 1 trung đoàn vệ binh

  • 1 trung đoàn đường ống xăng dầu

  • 2 trung đoàn thông tin liên lạc

  • Quá trình chuẩn bị cho chiến dịch

    Theo một số hãng thông tấn phương Tây, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tính đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 (kể cả các sư đoàn phòng thủ miền Bắc, không tham gia chiến đấu trực tiếp) gồm 23 sư đoàn bộ binh và các lực lượng.[16]

    Trong 2 năm (1973-1974), tại miền Bắc đã có 242.023 thanh niên nhập ngũ. Đến đầu năm 1975, các lực lượng trên đường Trường Sơn đã mở được 5.560 km đường mới các loại (gần bằng nửa độ dài các con đường đã mở trong 8 năm trước), đưa chiều dài của hệ thống đường vận tải và hành quân dọc dãy Trường Sơn lên 16.790 km, trong đó có 6.810 km đường trục dọc, 4.980 km đường ngang và 5.000 km đường vòng tránh. Từ đầu năm 1973 đến 4/1975, đã vận chuyển trên 823.146 tấn hàng hoá các loại (gấp 1,6 lần khối lượng vận chuyển của 13 năm trước đó), trong đó giao cho các chiến trường 364.524 tấn (gấp 2,6 lần khối lượng vận chuyển của 13 năm trước đó). Trong hơn 2 năm (1973 đến 4/1975), quân Giải phóng đã tổ chức cho 411.161 lượt người (có 25.989 cán bộ dân chính đảng) hành quân vào miền Nam (riêng từ tháng 11/1974 đến 4/1975 đã đưa vào chiến trường hơn 232.000 người). Về trang bị, trong 2 năm 1973 - 1974 đã vận chuyển vào miền Nam 149 đoàn binh khí kỹ thuật với 269 khẩu pháo mặt đất, 974 pháo cao xạ, 457 xe tăng và xe bọc thép; đưa 219.380 thương bệnh binh ra miền Bắc điều trị[17] Trong quá trình Tổng tiến công và nổi dậy, ngành Hậu cần đã vận chuyển nhiều quân đoàn, sư đoàn và lực lượng binh khí kỹ thuật, vận chuyển vào các chiến trường 46.892 tấn đạn và 93.540 tấn xăng dầu, tạo nên lượng dự trữ gần 260.000 tấn vật chất trên các chiến trường; cứu chữa cho 15.999 thương binh; thu trên 360.000 tấn chiến lợi phẩm[18]

    Theo tướng Võ Nguyên Giáp thì khi tuyển quân tham gia chiến dịch đã có những khó khăn gay gắt bởi số lính nhập ngũ đã chiếm quá nửa số nam thanh niên từ 18-25 tuổi còn lại trong cả nước. Dù đường Trường Sơn đã yên tĩnh hoàn toàn thì miền Bắc cũng không còn nhiều nhân lực để đưa vào nam nữa. Kế hoạch động viên năm 1975 lên đến 108.000 người (tăng 50% so với 1973 và 1974) tuy là cao nhưng rất cần thiết, và ngay trong 2 tháng đầu năm 1975 phải bổ sung nhanh chóng 57.000 người. Ông yêu cầu bất kỳ tình huống nào cũng phải đủ quân tham chiến ở miền Nam, nên dù có phải tuyển thêm ở độ tuổi 26-30 và kể cả khu vực học sinh, sinh viên và cán bộ, công nhân viên Nhà nước cũng phải làm.[19]

    Vũ khí và trang thiết bị quân sự
    • Lực lượng xe tăng - thiết giáp của Quân Giải phóng huy động cho chiến dịch là 320 xe tăng, 250 xe bọc thép[20] gồm các loại xe tăng T-34, T-54, pháo tự hành ZSU-57-2, SU-100 của Liên Xô; xe tăng lội nước PT-76 của Ba Lan, các loại xe thiết giáp BTR-40/50/60/152 của Liên Xô, xe tăng chủ lực kiểu 59, xe tăng hạng nhẹ kiểu 63 của Trung Quốc. Ngoài ra còn có 679 xe ô tô các loại.[20]

  • Pháo binh yểm hộ mặt đất là 88 khẩu pháo cỡ lớn, gồm các loại pháo nòng dài 130 mm, 122 mm và lựu pháo 105 mm; 1.561 pháo nhỏ (cỡ 76 mm và 85 mm), súng cối hoặc súng chống tăng không giật (ĐKZ)[20] gồm các loại: súng cối các cỡ nòng 60 mm, 81 mm, 120 mm; ĐKZ cỡ nòng 82 mm hoặc 73 mm; các dàn pháo phản lực H-12, BM-13 và BM-14

  • Lực lượng phòng không được trang bị một vài hệ thống tên lửa SAM-2; 343 pháo phòng không các loại (gồm các cỡ 100 mm, 85 mm, 57 mm, và 37 mm). Các đơn vị bộ binh có súng máy phòng không các cỡ 14,5 mm và 12,7 mm, một số đơn vị có thêm tên lửa vác vai Strela 2 để chống máy bay tầm thấp.

  • Không quân (tham gia giai đoạn cuối) được trang bị 6 máy bay A-37 chiếm được của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà tại các sân bay Đà Nẵng và Thành Sơn.

  • Hải quân có một số tàu phóng lôi, tàu tuần duyên cỡ nhỏ, tàu vận tải và xuồng chiến đấu.

  • Đây là chiến dịch mà quân Giải phóng huy động lực lượng, phương tiện và phương thức vận tải phục vụ chiến dịch với quy mô lớn nhất trong chiến tranh. Riêng vận tải tuyến chiến lược đã sử dụng 3.400 xe cơ giới, 32 tàu biển, 310 toa xe lửa. Ngoài ra đã sử dụng 2.000 phương tiện vận tải thủy của lực lượng Hải quân, 17.000 xe ôtô của các quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn và cơ quan nhà nước. Vận tải chiến dịch sử dụng gần 4.000 xe vận tải, 656 ghe, xuồng, canô và 300 xe bò, gần 2.000 xe đạp thồ, hơn 63.000 dân công[21]

    Sự ủng hộ của người dân miền Nam

    Đến đầu năm 1975, số lượng dân quân tự vệ và du kích tại miền Nam đã đạt tới 296.984 người, trong đó có 83.953 người trực tiếp tham gia chiến đấu[22]

    Trước ngày Tổng tấn công và nổi dậy, phong trào đấu tranh chính trị của công nhân, học sinh, sinh viên, các tổ chức hòa bình đòi chấm dứt chiến tranh, đòi Thiệu từ chức... nổ ra ở tất cả các thành phố lớn, diễn ra dưới nhiều hình thức, kết hợp bí mật với công khai và bán công khai, hợp pháp và bán hợp pháp... đã tập hợp ngày càng nhiều quần chúng ủng hộ quân Giải phóng, đẩy chính quyền Sài Gòn vào thế lúng túng, hoang mang, bị động. Các hạt nhân chính trị ở vùng ven và nội đô các thành phố được tích cực xây dựng, với hàng chục vạn quần chúng có tổ chức sẵn sàng nổi dậy. Từ vùng rừng núi đến nông thôn đồng bằng và đô thị; trong nông dân, công nhân, tín đồ các tôn giáo, lực lượng trí thức, sinh viên, học sinh... đều thành lập cơ quan chỉ huy kháng chiến và nổi dậy, tổ chức học tập chính trị, phân công nhiệm vụ theo phương án kết hợp tổng tiến công và nổi dậy, như: biểu tình đấu tranh, trinh sát, dẫn đường, tiếp tế lương thực, thực phẩm, may cờ Cộng hòa miền Nam Việt Nam, làm công tác binh vận và xuống đường phối hợp với các mũi tiến công quân sự giải phóng địa bàn. Cùng với đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương nhằm diệt những binh lính Việt Nam Cộng hòa còn cố chống cự, phá vòng vây, khống chế và phá rã phòng vệ dân sự, công tác binh vận cũng được tăng cường, nhằm tranh thủ lôi kéo binh lính, nhân viên, các phe phái trong nội bộ Việt Nam Cộng hòa, mở rộng mặt trận đoàn kết, cô lập những kẻ còn ngoan cố, góp phần đánh sập ý chí chiến đấu, sức phản kháng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tạo thêm thế và lực cho Quân Giải phóng và người dân vùng khác tiến hành tổng công kích, hạn chế bớt đổ máu.[23]

    Trên chiến trường miền Nam, khắp các tỉnh, thành phố, nhân dân miền Nam đã bao bọc cho Quân Giải phóng; tổ chức đào hầm bí mật để bảo vệ cán bộ, cất giấu vũ khí, cùng Quân Giải phóng vận động lính Việt Nam Cộng hòa không đi càn. Đặc biệt, để huy động lực lượng đến mức cao nhất, hàng vạn cán bộ được điều động để tăng cường cho thành phố Sài Gòn - Gia Định và các địa bàn ven đô.

    Riêng ở Quân khu 9, trong nửa đầu tháng 4-1975 đã có hơn 9.000 thanh niên gia nhập quân Giải phóng, đưa tổng số tiểu đoàn quân chủ lực của quân khu từ 14 lên 23 tiểu đoàn. Quân khu 8 tuyển hơn 5.000 thanh niên, thành lập thêm 7 tiểu đoàn chủ lực. Nhiều tỉnh phát triển từ 3 lên 6 tiểu đoàn. Lực lượng khởi nghĩa được tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn với số lượng hơn 10.000 nam, nữ thanh niên xung phong... Cuối chiến dịch, ở một số địa bàn mà đơn vị hành chính cũ đã đầu hàng, thanh niên địa phương đã bắt liên lạc gia nhập Quân Giải phóng. Chính sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân là động lực mạnh mẽ để quân Giải phóng quyết tâm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.[24]

    Nhân dân địa phương đã vác những bó cây và dỡ nhà mình ra lót đường cho xe tăng và pháo của Quân Giải phóng vượt qua. Nhân dân đã dẫn đường cho các mũi đột kích của Quân Giải phóng đánh chiếm nhiều mục tiêu khác nhau trên chiến trường miền Nam. Trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, những nơi chưa có bộ đội tiếp quản thì nhân dân, chủ yếu là công nhân, sinh viên, học sinh tiếp quản tạm thời.[25] Chiến thắng trong Tổng tấn công và nổi dậy có phần đóng góp to lớn của nhân dân hai miền Nam-Bắc.[26]

    Bố trí binh lực của Quân Giải phóng miền NamTại Miền Nam

    Ngoài 5 đơn vị cấp quân đoàn lần lượt được thành lập từ năm 1974 đến trước chiến dịch Hồ Chí Minh có vai trò tác chiến chủ đạo tại các mặt trận chính, các đơn vị quân địa phương thuộc các mặt trận và các khu ở miền Nam được bố trí như sau:[27]

    Quảng Trị - Thừa Thiên Huế (B5)

    Ngoài Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) bố trí tại đây, trên địa bàn còn có các đơn vị sau:

    • Trung đoàn bộ binh 4

  • Trung đoàn bộ binh 6

  • Trung đoàn đặc công 126

  • Trung đoàn pháo binh 16

  • Tây Nguyên (B3)

    Ngoài Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên), trên địa bàn còn có các đơn vị sau đây:

    • Trung đoàn bộ binh 25

  • Trung đoàn bộ binh 28

  • Trung đoàn bộ binh 95D

  • Ven biển miền Trung (Khu 5)

    • Sư đoàn bộ binh 2 (chủ lực khu)

  • Trung đoàn bộ binh 93 (chủ lực khu)

  • Trung đoàn bộ binh 94 (chủ lực khu)

  • Trung đoàn bộ binh 96 (chủ lực khu)

  • Trung đoàn bộ binh 271 (Quân khu IV tăng cường)

  • Trung đoàn bộ binh 46 (Quân khu III tăng cường)

  • Trung đoàn pháo binh 572

  • Trung đoàn pháo binh 576

  • Trung đoàn tăng-thiết giáp 574

  • Trung đoàn phòng không 573

  • Trung đoàn công binh 83

  • Đông Nam Bộ (B2)

    Bản đồ miêu tả Chiến dịch Mùa Xuân 1975 của Hoa Kỳ

    Ngoài các đơn vị của Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long), trên địa bàn còn có

    • Khối chủ lực miền:

    • Sư đoàn bộ binh Phước Long (thành lập tháng 2 năm 1975 từ các đơn vị thuộc C30B)

  • Sư đoàn đặc công 2

  • Lữ đoàn đặc công 316

  • Khối chủ lực khu 6:

    • Trung đoàn bộ binh 812

  • Tiểu đoàn pháo binh 130

  • Tiểu đoàn đặc công 200C

  • Khối chủ lực khu 7:

    • Sư đoàn bộ binh 6

  • Trung đoàn bộ binh 16

  • Trung đoàn bộ binh 271B

  • Đồng Bằng Tây Nam Bộ (Khu 8 và Khu 9)

    Ngoài các đơn vị của Đoàn 235, trên địa bàn còn có:

    • Sư đoàn bộ binh 8 (chủ lực Khu 8)

  • Sư đoàn bộ binh 4 (chủ lực Khu 9)

  • Trung đoàn bộ binh 88 (chủ lực Khu 8)

  • Trung đoàn bộ binh 1 (Đoàn Đồng Tháp, chủ lực Khu 8)

  • Trung đoàn bộ binh 2 (Đoàn U Minh, chủ lực Khu 9)

  • Trung đoàn bộ binh 3 (chủ lực Khu 9)

  • Trung đoàn đặc công 8 (thuộc Khu 8)

  • Trung đoàn pháo binh 6 (thuộc Khu 9)

  • Khu vực Sài Gòn - Gia Định (T-4)

    • Trung đoàn bộ binh 1 (Đoàn Gia Định 1)

  • Trung đoàn bộ binh 2 (Đoàn Gia Định 2)

  • Tuyến vận tải Trường Sơn

    • Sư đoàn 968 (Đoàn 559)

  • Sư đoàn phòng không 377 (Đoàn 559)

  • Các Sư đoàn công binh 472, 473, 565

  • 4 trung đoàn cao xạ

  • 2 sư đoàn ô tô vận tải.

  • 3 trung đoàn đường ống xăng dầu

  • Tại Miền Bắc

    Lực lượng dự bị chiến lược

    • Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) vào Nam tham gia giai đoạn cuối (Chiến dịch Hồ Chí Minh) gồm: các sư đoàn bộ binh 312, 320B, sư đoàn phòng không 367, lữ đoàn xe tăng 202, trung đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, trung đoàn thông tin. Riêng Sư đoàn 308 không tham chiến mà ở lại bảo vệ miền Bắc, đề phòng Hoa Kỳ đổ quân tấn công[12]

  • Sư đoàn bộ binh 338

  • Sư đoàn bộ binh 350

  • Lực lượng phòng không-không quân

    • Sư đoàn phòng không 361 (ở Hà Nội)

  • Sư đoàn phòng không 363 (ở Hải Phòng)

  • Sư đoàn phòng không 365 (ở Nghệ An, Hà Tĩnh)

  • 4 trung đoàn không quân tiêm kích

  • 3 trung đoàn và 1 tiểu đoàn radar cảnh giới không phận

  • Lực lượng phòng thủ bờ biển

    • 2 trung đoàn pháo tầm xa bảo vệ bờ biển

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn