Chiến dịch Sa Thầy (Kon Tum) năm 1966
Bước vào mùa khô 1966, trên chiến trường Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh mặt trận B3 quyết định xây dựng kế hoạch dụ Mỹ ra khỏi căn cứ để tiêu diệt. Lợi dụng chính “sở thích” nhảy cóc bằng trực thăng của quân Mỹ để dẫn dụ chúng vào bẫy ta giăng sẵn.
Khu vực tác chiến chủ yếu xác định khoảng 500km2 nằm trên địa bàn huyện Sa Thầy và một phần Tây Bắc huyện Chu Păh. Địa hình có phần tương đối rõ ràng gồm: từ sông Sa Thầy đến sông Pô Koo núi cao liên tiếp thành dãy, ở khu vực phía Tây cứ điểm Plây-Giê-Răng có một số núi thấp, gần sát sông Sa Thầy có bãi trống; từ sông Sa Thầy đến sát biên giới Việt Nam – Campuchia là rừng thưa, cây thưa có nhiều bãi trống, rất có thể địch sẽ đổ quân bằng trực thăng.
Thượng tướng Nguyễn Hữu An - Phó Tư lệnh mặt trận B3 đã viết trong hồi ký của mình về quá trình chuẩn bị: “Bước vào mùa chiến đấu đông xuân 1966-1967, lực lượng vũ trang Tây Nguyên ở tư thế đàng hoàng chững chạc. Thời gian chuẩn bị hàng tháng trời, tôi, Hữu Đức cùng một số cán bộ trung đoàn đi trinh sát thực địa từ Plây-giê-răng kéo dài tới biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng gần 60km.
Chúng tôi tìm địa điểm "chốt" bố trí sẵn lực lượng, và bàn cách đánh ở thực địa, làm sao khi dẫn địch ra chốt A, chốt A phải dụ địch vào chốt B, chốt B phải dụ địch vào chốt C… cứ như thế tạo ra một chuỗi những trận đánh nối tiếp dẫn địch theo ý của ta vào quyết chiến điểm.
Quyết chiến điểm ở sát biên giới chúng tôi chọn là một khu nương khá rộng, tương đối bằng phẳng, nếu địch muốn chặn không cho ta vượt qua biên giới, buộc chúng ta phải đổ quân xuống đây với lực lượng không thể ít hơn một tiểu đoàn. Ở đây ta tập trung lực lượng lớn nhất, với toàn bộ Trung đoàn 88 quyết tâm diệt gọn tiểu đoàn địch và cũng là trận đánh kết thúc chiến dịch”.
Ngày 19/10, mở màn chiến dịch, một phân đội thuộc Trung đoàn 320 đã bao vây “chọc tức” địch đồn trú ở Plây-giê-răng. Lập tức một đại đội thuộc Sư đoàn bộ binh số 4 quân Mỹ đổ quân xuống sau lưng quân ta cách khoảng 3km.
Đại đội địch vừa đổ xuống, ngay trong đêm đã bị một đại đội của ta nằm sau chúng khoảng 2km vận động tập kích. Ngày hôm sau chúng lại đổ thêm quân để bọc hậu đơn vị “Việt cộng” chúng mới phát hiện... Cứ như thế Trung đoàn 320 và một bộ phận của Trung đoàn 66 đã đánh hàng chục trận và kéo địch vào địa bàn quyết chiến mà ta đã chọn.
Với ý định không cho “Việt Cộng” chạy thoát sang Campuchia, quân Mỹ dùng trực thăng đổ 1 tiểu đoàn xuống sát biên giới. Trước khi đổ bộ, quân Mỹ cho máy bay B-52 rải bom phát quang một khu vực rộng khoảng 5km. Địa điểm đổ quân của Mỹ nằm gọn trong khu vực ta đã chọn cho chúng, được ta gọi mật danh là C1.
10h ngày 25/10 địch bắt đầu đổ quân xuống C1, pháo của ta chờ địch đổ quân khoảng mười phút thì khai hỏa. Cùng lúc 4 khẩu súng cối 120mm lên tiếng; tạo thành trận mưa đạn cối trùm lên toàn bộ đội hình địch.
Sau cơn mưa đạn cối, Trung đoàn 88 đã phục sẵn xung quanh, tổ chức thành 3 mũi tiến công vào lực lượng còn sót lại của địch. Sau phút choáng váng, lính Mỹ gọi phi pháo yểm trợ tích cực. Hai bên kịch chiến suốt đêm 25/10. Bộ đội Trung đoàn 88 xông lên đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê và lựu đạn làm quân địch càng thêm rối loạn. Trong khi đó, vì quân hai bên đã lẫn vào nhau nên phi pháo của địch tỏ ra vô tác dụng. Trong cơn tuyệt vọng, chỉ huy Mỹ cam tâm gọi máy bay ném bom trùm lên cả đội hình của chính quân mình.
Ở vòng ngoài, Trung đoàn 66 cũng tích cực đánh quân cứu viện, không cho bọn thám báo và các đại đội lẻ của địch đến gần khu vực C1. Bị thiệt hại nặng nề, sợ sẽ bị xóa sổ cả tiểu đoàn quân Mỹ rút chạy khỏi C1.
7h sáng 26/10, 20 chiếc trực thăng liều chết đáp xuống bãi C1 để bốc đám tàn quân về căn cứ. Cùng với đó, những đại đội, tiểu đoàn bị xé lẻ thuộc Sư đoàn bộ binh số 4 bị rải ra suốt chiều dài từ đồn Plây-giê-răng tới Cl gần 60 km cũng lần lượt phải rút chạy bằng trực thăng.
Tổng kết chiến dịch, từ 19/10 đến 6/12/1966, ta đánh 34 trận lớn nhỏ, tiêu diệt tổng số 2.050 Mỹ, 360 ngụy, diệt gọn một tiểu đoàn Mỹ, 8 đại đội Mỹ và một số trung đội, bắn rơi 21 máy bay, phá hủy 21 pháo, 5 cối 106 ly, 16 xe.
Rõ ràng quân Mỹ có vũ khí, phương tiện rất hiện đại nhưng cuối cùng vẫn bị thua là vì ngay từ nước xuất quân, chúng đã nằm gọn trong sự tính toán để tiêu diệt của quân ta. Chiến thắng Sa Thầy làm nổi bật tài thao lược của tướng lĩnh quân ta, đặc biệt là tài dụ địch, điều địch.
Nét đặc sắc trong nghệ thuật tạo lập thế trận ở đây còn được thể hiện trong việc ta liên tục tiến công vào các cụm quân địch khi chúng dừng lại, đứng chân chưa vững, tạo nên thế trận đánh địch rộng khắp và cũng chính là để củng cố thế vững chắc cho trận then chốt. Chính vì vậy, khi Lữ đoàn 1 (Sư đoàn 4) Mỹ đổ bộ xuống phía Đông sông Sa Thầy vào sáng 26-10, thì ngay đêm hôm đó đã bị Trung đoàn 320 của ta tiêu diệt hai đại đội, tiêu hao nặng một đại đội khác, tạo điều kiện cho các trung đoàn: 88 và 66 sẵn sàng đánh trận then chốt tại khu C1. Ngay hãng tin UPI (United Press International) của Mỹ đã phải thừa nhận: Sư đoàn bộ binh 4, mới đến Việt Nam được hai tháng đã bị các đơn vị lão luyện của Việt cộng trừng phạt một trận đau nhất. Đúng như vậy, vì khi Sư đoàn 4 quân đội Mỹ đổ bộ một tiểu đoàn bộ binh, hai đại đội pháo, cối và hai đại đội biệt kích quân đội Sài Gòn xuống khu vực C1 và Điểm cao 289 thì đã bị Trung đoàn 88, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66) tổ chức bao vây chặt, khiến lực lượng biệt kích ngụy không thể lùng sục ra xung quanh để phát hiện ta như những lần đổ quân trước. Khi tổ chức tập kích địch tại đây, trước tiên ta dùng Tiểu đoàn pháo cối 32 bất ngờ bắn, tập trung vào các mục tiêu chủ yếu, nên đã tiêu diệt ngay Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 2 Mỹ cùng với Đại đội pháo 105 mm và Đại đội cối 106,7 mm, bộ binh địch thì bị thương vong nhiều. Lợi dụng trời tối, địch lại đang hoang mang, bộ binh ta hình thành nhiều hướng, mũi nhanh chóng xung phong, chia cắt địch ra từng bộ phận, áp sát chúng, thực hiện đánh gần, kết hợp chặt chẽ với thọc sâu tiêu diệt địch. Chỉ trong vòng 9 giờ, lực lượng địch tại đây cơ bản đã bị ta tiêu diệt, chỉ còn số ít thoát thân bằng trực thăng.
Chiến thắng Sa Thầy là trận đánh thể hiện tài điều địch, dụ địch vô cùng tài tình của tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. 50 năm đã trôi qua, nhưng những nét đặc sắc về nghệ thuật tổ chức trận then chốt chiến dịch còn nguyên giá trị.



