CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - NGHỆ THUẬT NGHI BINH KINH ĐIỂN
Chiến dịch Tây Nguyên (4/3 - 3/4/1975) là đỉnh cao của nghệ thuật nghi binh lừa địch trong lịch sử quân sự Việt Nam, khiến toàn bộ Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn và tình báo Mỹ (CIA) hoàn toàn mất phương hướng. Bằng cách tổ chức điều động lực lượng giả như thật, quân ta đã trói chân chủ lực địch ở Bắc Tây Nguyên (Pleiku, Kon Tum), tạo điều kiện cho cú đấm thép giải phóng Buôn Ma Thuột.
Tóm tắt Thế trận Nghi binh lừa địch
Giai đoạn
Hành động Nghi binh của Ta
Kết quả & Phản ứng của Địch
Tạo thế chiến lược
(Cuối 1974 - Đầu 1975)
• Điều động Sư đoàn 968 từ Lào về phối hợp cùng Sư đoàn 10, 320 hoạt động rầm rộ tại Kon Tum và Pleiku.
• Làm đường giao thông giả, phao tin chuẩn bị đánh lớn ở Bắc Tây Nguyên.
• Tướng Phạm Văn Phú (Tư lệnh Quân đoàn 2 địch) tin rằng ta sẽ đánh Pleiku.
• Địch dồn 2/3 lực lượng chủ lực, thiết giáp lên giữ Pleiku và Kon Tum.
Nghi binh làn sóng điện
(Tháng 2/1975)
• Giữ nguyên vị trí các trạm vô tuyến điện cũ ở Bắc Tây Nguyên để liên tục phát tin, báo cáo giả.
• Các đại đoàn chủ lực di chuyển đến Buôn Ma Thuột trong tình trạng giữ bí mật tuyệt đối về thông tin.
• Trình báo kỹ thuật và trinh sát địch xác nhận các sư đoàn chủ lực của ta vẫn ở nguyên vị trí cũ tại Bắc Tây Nguyên.
Tác chiến nghi binh mở màn
(28/2 - 4/3/1975)
• Sư đoàn 968 nổ súng bắn phá dữ dội thị xã Pleiku, sân bay Cù Hanh, căn cứ Hàm Rồng.
• Tiêu diệt các cứ điểm phía Tây Pleiku và Bắc Kon Tum để đánh giả như thật.
• Địch khẩn cấp điều thêm Trung đoàn 45 và Liên đoàn Biệt động quân về tăng viện cho Pleiku.
• Bỏ ngỏ hoàn toàn hướng Nam Tây Nguyên (Buôn Ma Thuột).
Các đòn nghệ thuật "Nghi binh Kinh điển" của Chiến dịch
1. Điều địch, trói chân địch bằng hành động thực địa
Để lừa được bộ chỉ huy tối cao của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên dưới sự chỉ huy của Trung tướng Hoàng Minh Thảo đã áp dụng chiến thuật "đánh giả như thật". Sư đoàn 968 được giao nhiệm vụ công khai phô trương lực lượng, rầm rộ làm đường, vận chuyển lương thực xung quanh Pleiku và Kon Tum. Các đòn đập phá phòng tuyến phía tây Pleiku ngày 28/2/1975 của Sư đoàn 968 đã hoàn toàn dập tắt mọi sự nghi ngờ cuối cùng của địch.
2. Trận địa nghi binh bằng làn sóng điện mã (Tác chiến không gian thông tin)
Đây là chiến công thầm lặng của lực lượng thông tin và cơ yếu. Khi các Sư đoàn chủ lực (Sư đoàn 10, Sư đoàn 320) bí mật "lặn" sâu xuống phía Nam để tiếp cận Buôn Ma Thuột, hệ thống mạng vô tuyến điện đài của các đơn vị này vẫn ở lại vị trí cũ.
Các đài vô tuyến này liên tục phát đi các bức điện có nội dung giả về kế hoạch tác chiến, di chuyển, hậu cần hướng vào Pleiku.
Địch dò sóng điện đài và tin chắc rằng chủ lực ta không hề di chuyển. cho đến tận ngày 6/3, CIA vẫn nhận định hướng tiến công chính của Việt Cộng là Pleiku.
3. Cắt đường, lập thế trận "Khóa đuôi, chặn đầu"
Sau khi lừa địch dồn quân lên phía Bắc, quân ta triển khai đánh chia cắt chiến lược. Ngày 4/3, ta cắt Đường 19, Đường 21 hạ gục khả năng tiếp viện của địch từ đồng bằng lên. Kế đó, ngày 8/3 và 9/3, ta nhổ tận gốc các quận lỵ Thuần Mẫn, Đức Lập nhằm cô lập hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Khi Buôn Ma Thuột bị lộ ra trước mũi súng, địch đã không còn lực lượng ứng cứu và cũng không thể rút chạy.
4. Cú đấm thép bất ngờ vào "Huyệt hiểm" Buôn Ma Thuột
Rạng sáng ngày 10/3/1975, quân ta nổ súng tiến công thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng đột phá. Do bị bất ngờ và hoảng loạn, thế trận phòng thủ yếu ớt của địch tại đây nhanh chóng suy sụp chỉ sau gần 2 ngày chiến đấu. Trận đánh trúng "huyệt hiểm" này đã tạo nên phản ứng dây chuyền, khiến quân đoàn 2 địch phải tháo chạy hỗn loạn, dẫn đến sự tan rã mang tính chiến lược của ngụy quân trên toàn miền Nam



