Chiến dịch Thu Đông những năm 1950
Người cán bộ tiền khởi nghĩa được trao tặng Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, ông Vũ Đình Bảng tham gia Đoàn Cứu quốc quân tháng 1-1945. Trong Chiến dịch Thu Đông, ông bị thương nặng chuyển về an dưỡng tại Phú Thọ. Đến năm 1953, ông trở lại chiến trường vào Đại đoàn 316. Còn với ông Phạm Trọng Thiếp, nhập ngũ năm 1949, sau khi huấn luyện tại K10 Việt Bắc, ông được điều động vào C180, Đại đoàn 316. Ông Bảng nhớ lại: Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 316 hoạt động trên một địa bàn rộng lớn, từ Lai Châu đến các tỉnh bắc Lào; từ Khe Chít, Pú Hồng Mèo đến Mường Chà, Mường Nhé, A Pa Chải và ngã tư Tuần Giáo. Đại đoàn được giao nhiệm vụ tiến công các cứ điểm A1, C1 và C2, cánh cửa thép phía Đông Điện Biên Phủ. Với tinh thần xả thân, mưu trí, sáng tạo, những chiến sĩ Đại đoàn 316 đã anh dũng chiến đấu, lập nên chiến công vang dội ở Tà Lèng, Đồi Xanh, Đồi Cháy. Từ cuối năm 1953 đến 1954, ông Thiếp trực tiếp tham gia lực lượng vận tải, dựng hệ thống hầm hào chiến đấu. Khó khăn đối với những người lính thời kỳ này chính là điều kiện khắc nghiệt của thời tiết và những thiếu thốn trong sinh hoạt. Mặc dù phải ăn măng rừng thay cơm, rải lá rừng để ngủ, mọi người vẫn luôn vui vẻ động viên nhau cố gắng cho trận chiến. Mỗi chiến sĩ được giao nhiệm vụ đào một đoạn chiến hào và dùng luôn đoạn chiến hào đó làm nơi sinh hoạt. Chiến hào phải được đào ven bìa rừng, ở những dốc đứng, đường hẹp để tránh bị địch phát hiện nên công việc càng khó khăn gấp bội, thế nhưng ai cũng làm việc trong khí thế phấn khởi và niềm tin chiến thắng. Còn với CCB Vũ Đình Bảng, do bị thương, ông được cấp trên bố trí làm công tác tham mưu, chuẩn bị lực lượng, huấn luyện bộ đội và tham gia công tác cứu thương tại mặt trận. Ông kể: “Ngày ấy, các ca trọng thương rất nhiều, như vết thương xuyên bụng, vỡ nội tạng, chấn thương sọ não, gãy xương đùi, xương cẳng chân... Điều kiện phẫu thuật ở chiến trường hết sức thiếu thốn, các bác sĩ thậm chí phải mổ dưới “ánh đèn” đi-na-mô xe đạp. Sợ nhất là những ngày trời mưa. Vì điều kiện chiến trường, những thương binh chưa kịp chuyển tuyến sau phải nằm tạm ở các hầm hàm ếch, nếu mưa sẽ làm sụt hầm, vùi lấp thương binh. Thuốc men thiếu đã đành, đến chỉ khâu, bông băng... cũng thiếu và không giặt hấp được. Các bác sĩ, y tá phải tự pha chế nước cất, huyết thanh, dịch truyền. Ông Vũ Đình Bảng kể: Có những lần pháo rơi gần miệng hầm khiến đất trời chao đảo, các quân y sĩ và đội cứu thương không ai bảo ai chạy ngay lại, mỗi người ôm một thương binh, lấy thân mình che cho thương binh để đất bụi không rơi vào vết thương của các anh!



