Bài viết

Chiến dịch Thượng Lào năm 1953

Chiến dịch Thượng Lào diễn ra trong khoảng tháng 4 đến tháng 5 năm 1953, là một chiến dịch phối hợp lớn giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến dịch được mở trong bối cảnh sau thắng lợi của Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, vùng giải phóng của Việt Nam đã tiến sát khu vực Thượng Lào, tạo điều kiện để hai lực lượng phối hợp trên một chiến trường rộng hơn. Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân Pháp, giải phóng đất đai, giúp cách mạng Lào xây dựng căn cứ và buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng. Ban đầu, hướng chủ yếu được xác định là Sầm Nưa, nhưng khi quân Pháp rút khỏi nơi này, liên quân Việt – Lào chuyển sang truy kích trên một không gian rộng lớn. Thắng lợi của chiến dịch đã mở rộng vùng giải phóng của Lào, nối liền với Tây Bắc Việt Nam và tạo thêm điều kiện cho cuộc kháng chiến của hai nước trong những năm tiếp theo.

Lai Châu08/10/2026Xã Đak Nhau (Đoàn xã Đak Nhau)8 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chiến dịch Thượng Lào năm 1953

Sau Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, tương quan lực lượng tại khu vực Tây Bắc và Thượng Lào có nhiều thay đổi. Quân Pháp nhận thấy nguy cơ mất Thượng Lào nên tăng cường xây dựng hệ thống phòng thủ tại khu vực này, trong đó Sầm Nưa được tổ chức thành một cứ điểm quan trọng. Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Pháp bổ sung khoảng 2.500 quân cho Sầm Nưa, tăng cường pháo binh và tổ chức khu vực này thành một hệ thống phòng thủ có tính chất tương tự Nà Sản ở Tây Bắc Việt Nam. Bộ chỉ huy Pháp đồng thời chuẩn bị lực lượng cơ động từ Bắc Bộ để có thể ứng cứu khi các vị trí ở Thượng Lào bị tiến công.

Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy Việt Nam nghiên cứu khả năng mở một chiến dịch phối hợp với quân và dân Lào. Hội nghị Tổng Quân ủy tháng 2 năm 1953 xác định chiến dịch có thể giúp tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ nhân dân Lào, xây dựng căn cứ đứng chân cho lực lượng cách mạng Lào và buộc quân Pháp phải tiếp tục phân tán lực lượng. Đồng thời, chiến dịch cũng là dịp để bộ đội Việt Nam rèn luyện khả năng đánh các cứ điểm được tổ chức tương đối vững chắc. Chủ trương này phù hợp với phương hướng chiến lược lúc đó là tránh nơi địch mạnh, tìm nơi sơ hở để tiến công và mở rộng vùng tự do.

Ngày 3 tháng 2 năm 1953, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Kháng chiến Lào thống nhất phối hợp mở Chiến dịch Thượng Lào. Bộ Chỉ huy chiến dịch có sự tham gia của lãnh đạo và cán bộ quân sự hai nước; phía Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch, Nguyễn Chí Thanh phụ trách công tác chính trị và Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng; phía Lào có Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của cách mạng Lào. Sự tham gia trực tiếp của lực lượng Lào trong quá trình chuẩn bị và chiến đấu thể hiện tính chất phối hợp của chiến dịch, chứ không phải một chiến dịch chỉ do lực lượng Việt Nam tiến hành trên đất Lào.

Lực lượng Việt Nam tham gia chiến dịch khá lớn, gồm các Đại đoàn 308, 312, 316 trên hướng chủ yếu Sầm Nưa; Đại đoàn 304 trên hướng Xiêng Khoảng và Trung đoàn 148 trên hướng lưu vực sông Nậm U. Bên cạnh đó còn có các đơn vị pháo binh, công binh, phòng không, thông tin, trinh sát và lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam đang hoạt động tại Thượng Lào. Các đơn vị cách mạng Lào và lực lượng vũ trang địa phương cũng phối hợp trên từng hướng. Công tác hậu cần phải bảo đảm cho một lực lượng lớn hành quân qua địa hình rừng núi, vượt biên giới và hoạt động sâu trên đất Lào; theo tư liệu ngành hậu cần, tổng quân số lực lượng Việt Nam tham gia chiến dịch lên tới hơn 45.000 người và đã huy động 62.500 dân công với hơn 2,5 triệu ngày công.

Kế hoạch ban đầu xác định Sầm Nưa là hướng chủ yếu. Các Đại đoàn 308, 312 và một bộ phận Đại đoàn 316 từ khu vực Tây Bắc Việt Nam tiến theo hướng đường số 6, vượt biên giới sang Thượng Lào. Đại đoàn 304 từ Nghệ An tiến theo đường số 7 về hướng Xiêng Khoảng, vừa tạo sức ép lên đối phương vừa có nhiệm vụ ngăn đường rút của quân Pháp từ Sầm Nưa xuống phía nam. Trung đoàn 148 hoạt động ở lưu vực sông Nậm U, phối hợp với các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang Lào. Cách bố trí nhiều hướng nhằm tạo thế bao vây rộng và hạn chế khả năng tập trung lực lượng của quân Pháp.

Từ cuối tháng 3 năm 1953, các đơn vị bắt đầu hành quân đến vị trí tập kết. Ngày 8 tháng 4, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho các lực lượng nhanh chóng vượt biên giới, hành quân bí mật và khẩn trương về mục tiêu. Quân Pháp phát hiện sự chuyển động của các đơn vị chủ lực Việt Nam và nhận định Sầm Nưa có nguy cơ bị tiến công lớn. Để đối phó, Bộ chỉ huy Pháp tìm cách mở các cuộc hành binh ở Ninh Bình, Thanh Hóa và từ Nà Sản về hướng Mộc Châu nhằm kéo chủ lực Việt Nam trở lại, nhưng các hoạt động này không đạt được mục tiêu.

Đến ngày 12 tháng 4, trước nguy cơ bị bao vây và tiêu diệt, tướng Raoul Salan quyết định cho lực lượng Pháp rút khỏi Sầm Nưa. Đêm 12 tháng 4, khoảng 1.900 quân Pháp bắt đầu rút khỏi thị xã; đến trưa ngày 13 tháng 4, lực lượng cuối cùng rời khỏi Sầm Nưa. Như vậy, mục tiêu ban đầu của liên quân Việt – Lào là tiến công một hệ thống phòng thủ đã thay đổi ngay trước khi trận đánh chính diễn ra. Đây là thời điểm đòi hỏi Bộ Chỉ huy chiến dịch phải nhanh chóng điều chỉnh kế hoạch thay vì tiếp tục triển khai theo phương án đánh cứ điểm đã chuẩn bị.

Ngay sau khi phát hiện quân Pháp rút chạy, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển từ tiến công công sự sang vận động truy kích. Các Đại đoàn 308, 312 và 316 tổ chức những lực lượng cơ động nhẹ, nhanh chóng bám theo đội hình địch, chia cắt và tìm cách chặn các hướng rút. Cuộc truy kích bắt đầu từ Sầm Nưa và kéo dài qua nhiều khu vực về phía đường số 7, Bản Ban và Lát Bua. Sự thay đổi này cho thấy khả năng xử trí tình huống của Bộ Chỉ huy chiến dịch: thay vì tập trung vào một mục tiêu đã không còn quân địch, lực lượng chủ lực được sử dụng để tiếp tục đánh vào sinh lực đối phương đang rút chạy.

Trên hướng Xiêng Khoảng, Đại đoàn 304 phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào tiến công các vị trí của Pháp. Ngày 17 tháng 4, lực lượng phối hợp đánh đồn Noọng Hét, sau đó tiếp tục tiến công tại Bản Ban, buộc quân Pháp rút về phía Khang Khay. Trên hướng Sầm Nưa, các đơn vị truy kích tiếp tục đánh những bộ phận quân Pháp đang tìm đường rút về phía nam. Trong khi đó, lực lượng ở lưu vực sông Nậm U mở rộng hoạt động, tạo sức ép về phía Luông Phra-băng.

Cuối tháng 4 năm 1953, trước nguy cơ liên quân Việt – Lào tiến xuống Luông Phra-băng, quân Pháp phải điều thêm lực lượng cơ động từ Nà Sản sang tổ chức phòng thủ. Hai tiểu đoàn thuộc Binh đoàn cơ động số 1 được đưa tới khu vực này và hình thành một cụm phòng thủ nhằm bảo vệ Luông Phra-băng. Việc quân Pháp phải điều quân từ chiến trường Bắc Bộ sang Thượng Lào cho thấy tác động của chiến dịch không chỉ giới hạn ở Sầm Nưa mà còn gây sức ép lên cách bố trí lực lượng của đối phương trên phạm vi rộng. Liên quân Việt – Lào tiếp tục truy kích và đánh các vị trí địch trong những tuần tiếp theo.

Ngày 18 tháng 5 năm 1953, trận tiến công cụm cứ điểm Mường Khoa diễn ra và trở thành một trong những trận đánh cuối của chiến dịch. Theo tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, liên quân Việt – Lào diệt và bắt gần 300 quân địch tại đây. Trận đánh cho thấy dù quân Pháp đã rút khỏi Sầm Nưa, chiến dịch vẫn tiếp tục được mở rộng nhằm tiêu diệt thêm sinh lực đối phương và củng cố vùng giải phóng. Hoạt động truy kích kéo dài đã biến chiến dịch thành một cuộc vận động tiến công trên địa bàn rộng, thay vì chỉ là một trận đánh vào một tập đoàn cứ điểm.

Kết quả, liên quân Việt – Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.800 quân Pháp và lực lượng đối phương, giải phóng tỉnh Sầm Nưa, phần lớn tỉnh Xiêng Khoảng và một số khu vực thuộc tỉnh Phông-xa-lỳ. Vùng giải phóng có diện tích hơn 4.000 km² với hơn 300.000 dân theo tư liệu ngành hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam. Vùng căn cứ kháng chiến của cách mạng Lào được mở rộng và nối liền với vùng Tây Bắc Việt Nam, tạo thêm không gian hoạt động cho lực lượng cách mạng hai nước.

Một vấn đề quan trọng của chiến dịch là công tác hậu cần. Quân đội Việt Nam phải bảo đảm lương thực, vũ khí, thuốc men và vận chuyển thương binh trên một chiến trường cách xa hậu phương, địa hình hiểm trở và đường sá hạn chế. Theo tư liệu của ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, chiến dịch đã bảo đảm hơn 6.300 tấn gạo, 200 tấn muối, 290 tấn thịt, 190 tấn thực phẩm khác và 166 tấn vũ khí; đồng thời cứu chữa 490 thương binh. Những con số này cho thấy để duy trì một chiến dịch kéo dài trên đất bạn, hệ thống hậu cần và sự đóng góp của dân công có vai trò không kém các hoạt động trực tiếp trên chiến trường.

Chiến dịch Thượng Lào cũng đánh dấu một bước phát triển đáng chú ý trong quan hệ phối hợp chiến đấu giữa lực lượng cách mạng Việt Nam và Lào. Lần đầu tiên một lực lượng chủ lực lớn của Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào tiến hành một chiến dịch quy mô lớn trên đất Lào, với sự tham gia của lực lượng vũ trang và chính quyền cách mạng địa phương. Thắng lợi giúp cách mạng Lào mở rộng vùng căn cứ, đồng thời buộc quân Pháp phải phân tán thêm lực lượng để đối phó với nhiều hướng chiến trường. Theo đánh giá của các nguồn quân sự Việt Nam, đây là một bước phát triển quan trọng của liên minh chiến đấu Việt – Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Về nghệ thuật quân sự, một trong những kinh nghiệm nổi bật của chiến dịch là khả năng chuyển hóa phương án tác chiến theo tình hình thực tế. Bộ đội ban đầu chuẩn bị đánh Sầm Nưa theo cách đánh tập đoàn cứ điểm, nhưng khi quân Pháp rút chạy, Bộ Chỉ huy nhanh chóng chuyển sang vận động truy kích. Việc tổ chức các lực lượng nhẹ, cơ động, bám sát và chia cắt đội hình đối phương cho phép quân ta tiếp tục khai thác kết quả thay vì để đối phương rút lui an toàn. Đây cũng là một kinh nghiệm được đặt trong quá trình quân đội Việt Nam từng bước nâng cao khả năng tổ chức những chiến dịch có quy mô và không gian tác chiến ngày càng lớn.

Chiến dịch Thượng Lào năm 1953 diễn ra chỉ vài tháng trước khi cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953–1954 bước vào giai đoạn quyết liệt. Việc mở rộng vùng giải phóng tại Thượng Lào tạo thêm một hướng hoạt động chiến lược, đồng thời buộc quân Pháp phải đối phó với nhiều chiến trường thay vì tập trung lực lượng vào một hướng duy nhất. Trong Đông – Xuân 1953–1954, Thượng Lào tiếp tục là một trong những hướng tiến công quan trọng của quân đội Việt Nam và lực lượng cách mạng Lào. Những diễn biến này góp phần hình thành thế buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng trên nhiều địa bàn trước khi tập trung vào Điện Biên Phủ.

Ngày nay, những địa danh như Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Mường Khoa, lưu vực Nậm U và các tuyến đường hành quân từ Tây Bắc Việt Nam sang Lào vẫn gắn với lịch sử liên minh chiến đấu của hai dân tộc. Các ảnh tư liệu, bản đồ chiến dịch, hiện vật quân sự và những địa điểm ghi dấu hoạt động của liên quân Việt – Lào là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu chiến dịch. Đặc biệt, hình ảnh Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng bàn kế hoạch chiến dịch là một tư liệu thường được các cơ quan bảo tàng sử dụng để giới thiệu về sự phối hợp giữa hai lực lượng.

Chiến dịch Thượng Lào năm 1953 vì thế có thể được nhìn nhận trong một tiến trình rộng hơn của cuộc kháng chiến ở Đông Dương: từ việc mở rộng vùng giải phóng, phối hợp giữa các chiến trường đến việc buộc đối phương phải phân tán lực lượng. Thành công của chiến dịch không chỉ nằm ở số cứ điểm bị đánh chiếm hay lực lượng đối phương bị loại khỏi vòng chiến đấu, mà còn ở khả năng phối hợp giữa quân đội hai nước và sự thích ứng nhanh trước những thay đổi trên chiến trường. Việc nghiên cứu chiến dịch cần đặt các trận đánh, hoạt động truy kích, công tác hậu cần và vai trò của lực lượng Lào trong cùng một chỉnh thể để tránh nhìn sự kiện chỉ từ một phía.

Những tư liệu về Chiến dịch Thượng Lào cũng nhắc lại vai trò của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, dân công và nhân dân hai nước trong một chiến trường cách xa hậu phương. Việc bảo tồn ảnh, bản đồ, hiện vật và các địa điểm lịch sử liên quan không chỉ nhằm ghi nhớ một chiến dịch quân sự mà còn giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn quá trình phối hợp chiến đấu Việt – Lào trong một giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi những chứng cứ lịch sử được giữ gìn và nghiên cứu nghiêm túc, câu chuyện về Thượng Lào năm 1953 có thể được tiếp cận đầy đủ hơn, từ quyết định mở chiến dịch, diễn biến trên chiến trường đến những thay đổi lâu dài về thế trận của cuộc kháng chiến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn