BỐI CẢNH LỊCH SỬ Cuối năm 1966 đầu năm 1967, mặc dù quân Mỹ được tăng cường thêm lực lượng, nhưng Mỹ- nguỵ cũng chỉ có thể tập trung đánh trên một hướng là miền Đông Nam Bộ, trọng điểm là chiến khu Dương Minh Châu, hòng diệt cơ quan đầu não của ta, còn các hướng khác chúng thực hiện kiềm chế, riêng Đường số 9 địch tích cực phòng ngự.
Cuộc phản công chiến lược lần thứ 2 của chúng bắt đầu từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 4 năm 1967, trong đó có cuộc hành quân Gian- xơn- xi- ti với lực lượng 26 tiểu đoàn (có 22 tiểu đoàn Mỹ) là cuộc hành quân lớn nhất và chủ yếu nhất. Mỹ hy vọng giành được những thắng quân sự có ý nghĩa chiến lược, tạo ra bước ngoặt quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho chúng. Nhưng hơn 14.000 tên địch bị loại (trong đó có 2 tiểu đoàn và 18 đại đội bộ binh, 2 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo binh, 9 chi đoàn thiết giáp bị diệt gọn); trên 1.000 xe quân sự (có 881 xe thiết giáp) và 90 khẩu pháo bị phá huỷ, 167 máy bay các loại bị bắn rơi và bắn cháy.
Địch bị thất bại to lớn trong mùa khô 1966- 1967 và đặc biệt trong cuọc hành quân Gian-xơn-xi-ty. Mặc dù quân Mỹ còn gần 480.000 tên nhưng lực lượng bị dàn mỏng để đối phó với ta trên các chiến trường, không còn đủ sức “tìm diệt”; còn gọng kìm “bình định” của quân nguỵ cũng bất lực. Mỹ-nguỵ ngày càng lún sâu vào thế bị động, chiến lược 2 gọng kìm “tìm diệt và bình định” đang đứng trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn.
Cùng với việc đẩy mạnh “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, địch ra sức mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm hạn chế vận chuyển tiếp tế của ta vào miền Nam và sang Lào, phá hoại tiềm lực của miền Bắc, làm suy yếu hậu phương chiến lược của cả nước. Về biện pháp chiến lược, ngoài việc sử dụng không quân vẫn là chủ yếu, địch còn mở rộng pháo kích của hải quân đến vĩ tuyến 20 và thả thuỷ lôi phong toả một số vùng chọn lọc (Cửa Nam Triệu, cửa Ba Lạt, cửa sông Mã, sông Cả, sông Gianh và sông Kiến Giang).
Năm 1967, địch đã thực hiện 122.960 lần máy bay xuất kích ném 270.000 tấn bom, từ các tàu chiến bắn vào vùng biển miền Bắc- chỉ tính từ ngày 25 tháng 10 năm 1967 đến ngày 1 tháng 1 năm 1968 là 484.000 viên.
Trong cuộc đọ sức với quân và dân miền Bắc, đế quốc Mỹ không những không thực hiện được ý đồ chiến lược đã đề ra, mà còn gánh chịu một thất bại to lớn với 1.062 máy bay bị bắn rơi, 65 tầu chiến bị bắn cháy và bắn chìm, hàng trăm giặc lái sừng sỏ bị chết hoặc bị bắt sống. Thất bại to lớn hơn cả là sự dao động trong bọn hiếu chiến Mỹ đã bắt đầu xuất hiện, lòng tin của chúng ở biện pháp chiến lược dùng không quân đánh phá miền Bắc đã giảm sút. Ngày 27 tháng 8 năm 1967 Mác-na-ma-ra, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đã phải công khai thú nhận: “Những cuộc ném bom mới, dù kết quả thế nào, Mỹ cũng không thể thắng và rút ngắn được cuộc chiến tranh. Tôi chưa bao giờ nhận được bằng chứng nào chứng minh nếu cứ tăng cường oanh tạc thì giảm được số thiệt hại của lính Mỹ ở Nam Việt Nam, trái lại tôi thấy bằng chứng ngược lại”… (Theo tin AFP ngày 28- 8- 1967)
Thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở cả hai miền Nam- Bắc trong 2 năm 1966- 1967 đã đẩy Mỹ- nguỵ lún sâu vào thế bị động chiến lược, lực lượng vũ trang của ta trên cả hai miền đều được thử thách và trưởng thành. Trên chiến trường miền Nam, lực lượng vũ trang giải phóng, đặc biệt là khối chủ lực lớn mạnh vượt bậc cả về số lượng và khả năng chiến đấu, giữ vững thế chủ động tiến công, giành thắng lợi lớn ở Quế Sơn, Thăng Bình, Lộc Ninh, Đắc Tô… Quy mô trận chiến đấu cũng nâng cao dần lên cấp trung đoàn, sư đoàn, hình thức chiến đấu hiệp đồng bộ binh với pháo binh đã xuất hiện và đang trở thành hình thức chủ yếu trong các loại hoạt động chiến đấu của khối chủ lực tập trung. Bên cạnh đó, phương pháp chiến đấu của từng binh chủng như đặc công, pháo binh, công binh… cũng được phát huy rộng rãi, gây cho địch nhiều thiệt hại to lớn.
Thực tế chiến trường đã buộc bọn hiếu chiến Mỹ phải nhìn thẳng vào sự thật là không thể thắng trong cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu này. Nhưng do bản chất ngoan cố và mù quáng, dựa trên cơ sở quan điểm ỷ vào sức mạnh vũ khí, số lượng quân đông, nên đế quốc Mỹ vẫn tăng thêm quân số và phương tiện chiến tranh vào miền Nam, dự dịnh mở cuộc phản công lớn lần thứ 3 vào mùa khô 1967-1968, nhằm phá kế hoạch tiến công lớn của ta, giành thế chủ động trên chiến trường, phục vụ đắc lực cho cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ vào tháng 11 năm 1968, đồng thời để gây vốn chính trị khi buộc phải thương lượng với ta.
Cuối năm 1967, trước sự uy hiếp ngày càng mạnh của lực lượng vũ trang ta trên toàn chiến trường không chỉ ở ngoại tuyến mà ngay cả trong các thành phố và thị xã, lại đồng thời phát hiện sự điều quân của ta, Mỹ- nguỵ phải tạm ngừng cuộc phản công chiến lược lần thứ 3, đưa quân về giữ các vùng trọng điểm (trọng yếu), tăng quân cho vùng chiến thuật I, củng cố tuyến phòng thủ Đường số 9, thiết lập “hàng rào điện tử Mác-na-ma-ra” ở phía nam khu phi quân sự. Thực chất địch đã phải chuyển vào phòng ngự một cách bị dộng, rõ nét nhất là ở chiến trường Trị-Thiên và Đường số 9.
Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp đã phân tích thất bại của đế quốc Mỹ trong những mục tiêu chiến lược của chúng trên cả hai miền Nam-Bắc nước ta, đó là thất bại cả về quân sự và chính trị - chủ yếu là quân sự - là thất bại lớn về chiến lược. Trong Nghị quyết của Bộ Chính trị (sau được Trung ương thông qua và coi là Nghị quyết Trung ương 14) viết: “Đã đến lúc cần động viên những cố gắng lớn nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển mới, thực hiện tiến công và nổi dậy đồng loạt để giành thắng lợi quyết định".
… “Những diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở trên thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở trong thế thua, thế bị động và khó khăn. Tình hình ấy cho phép ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của ta sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định" (trích).
Đó là bối cảnh chiến lược của chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh ra đời do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp tổ chức và chỉ huy. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh- Xuân- Hè 1968« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 06:35:47 am » |
PHẦN THỨ HAI TỔ CHỨC CHIẾN DỊCH I. Ý ĐỊNH CHIẾN LƯỢC
Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh đã xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược Xuân- Hè 1968, trong đó nêu rõ:
“Cùng với đòn tập kích chiến lược quy mô trên toàn Miền đánh vào các thành phố, thị xã, kết hợp với nổi dậy của quyết chiến ở nông thôn và đô thị- trọng điểm là Sài Gòn- Huế, thì còn có một đòn tiến công chiến lược của bộ đội chủ lực nhằm tiêu diệt, phân tán lực lượng chủ lực của địch mà chiến trường chính là hướng Đường số 9, tạo điều kiện cho các chiến trường khác hoàn thành nhiệm vụ tiến công và nổi dậy đồng loạt, trước hết cho Trị- Thiên- Huế”.
“Thời cơ phát động tiến công và nổi dậy đồng loạt là lúc địch sơ hở nhân ngày Tết Mậu Thân, dùng lực lượng tinh nhuệ tập kích vào các thành phố, thị xã, trụ bám giữ vững thế làm chủ, phát động quyết chiến, đưa cao trào lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân".
KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC CHIA LÀM 3 BƯỚC
Bước 1: Tiến hành trong mùa đông năm 1967, và đầu tháng 1 năm 1968 vừa tác chiến vừa tạo thế kéo địch ra vùng rừng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho tổng công kích và tổng khởi nghĩa ở các đô thị.
Bước 2: Tiến hành cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa ở các thành phố, thị xã.
Bước 3: Phát triển củng cố các vùng mới giải phóng, đánh địch phản kích, lập chính quyền mới.
VỀ PHƯƠNG HƯỚNG CHIẾN LƯỢC
- Hai chiến trường trọng điểm là miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn- Chợ Lớn (chiến trường quyết định thứ nhất), chiến trường Đường số 9-Trị-Thiên-Quảng Đà (chiến trường quyết định thứ hai).
- Ba trọng điểm tổng công kích và tổng khởi nghĩa là Sài Gòn-Chợ Lớn (chủ yếu 1), Huế (chủ yếu 2), Đà Nẵng (chủ yếu 3).
- Chiến trường rừng núi Tây Nguyên, Đường số 9-Khe Sanh (đặc biệt Khe Sanh) là chiến trường thu hút kiềm chế, tiêu diệt lực lượng cơ động của Mỹ càng nhiều càng tốt, để cho các trọng điểm thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa.
ĐỊA BÀN MỞ CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG SỐ 9-KHE SANH
Địa bàn mở chiến dịch được xác định từ Cửa Việt- Đông Hà (phía đông) đến biên giới Việt- Lào (phía tây) tiếp giáp phía bắc đến Cồn Tiên, Dốc Miếu.
Hướng tây (khu vực Khe Sanh) được xác định là hướng chính của chiến dịch, hướng đông là hướng quan trọng. Trong quá trình diễn biến chiến dịch, tuỳ tình hình, có thể khu vực phía đông sẽ chuyển thành hướng chính.
NHIỆM VỤ CỦA CHIẾN DịCH ĐƯỜNG SỐ 9-KHE SANH
- Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, chủ yếu là Mỹ. Khi có điều kiện thì phá vỡ một phần hệ thống phòng ngự của địch ở Đường số 9, phát triển vào Trị-Thiên.
- Hiệp đồng chặt chẽ với các chiến trường toàn Miền, nhất là với Trị-Thiên-Huế.
- Qua chiến đấu, rèn luyện bộ đội, bồi dưỡng cán bộ, để đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh.
Trong 4 nhiệm vụ trên, nhiệm vụ tiêu diệt địch, phối hợp chiến trường là cơ bản nhất,
Yêu cầu đợt Xuân- Hè 1968:
- Diệt 2- 3 vạn địch, trong đó diệt gọn 5-7 tiểu đoàn Mỹ, 2-3 tiểu đoàn nguỵ.
- Kéo được 2-3 sư đoàn quân địch ra Đường số 9, trong đó có 2 sư đoàn Mỹ, giữ chân chúng lại tiếp tục tiêu diệt.
- Trường hợp địch rút lui một bộ phận hoặc xuống thế thì thừa thắng tiến vào giải phóng một phần Đường số 9, mạnh bạo phát triển vào Quảng Trị-Thừa Thiên.
Đợt mùa Xuân là đợt quan trọng nhất trong kế hoạch hoạt động Xuân- Hè 1968, phần lớn yêu cầu của kế hoạch phải thực hiện đầy đủ trong mùa Xuân, cụ thể: phải tiêu diệt trên dưới 2 vạn tên địch, trong đó diệt cho được một số vị trí và một số đơn vị từ 3- 5 tiểu đoàn Mỹ, 2- 3 tiểu đoàn cơ động nguỵ, phối hợp có hiệu quả với toàn Miền, đánh dồn dập, liên tục thực hiện tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn, chiến đoàn địch, bảo đảm dúng thời gian quy định. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh- Xuân- Hè 1968« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 06:39:15 am » |
PHƯƠNG CHÂM TÁC CHIẾN
Lấy đánh địch ngoài công sự làm chính, đánh địch trong công sự khi cần thiết và chắc thắng; kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh liên tục, rộng khắp, tạo điều kiện cho đánh lớn; phối hợp chặt chẽ 3 thứ quân, kết hợp nhịp nhàng quân sự, chính trị và địch vận.
LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN CỦA CHIẾN DỊCH
Bao gồm lực lượng thuộc B5 đang hoạt động ở khu vực Đường số 9 và lực lượng mới được điều và tham gia chiến dịch.
- Lực lượng đang hoạt động có: sư đoàn bộ binh 325; 3 trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 thuộc sư đoàn 324 cũ; trung đoàn bộ binh 270 (của Vĩnh Linh); 2 tiểu đoàn địa phương Quảng Trị; các đại đội địa phương huyện; 1 đoàn đặc công; 3 trung đoàn pháo binh (84, 164, 204); 2 trung đoàn cao xạ (128, 282) cùng các lực lượng bảo đảm khác…
Những đơn vị kể trên, đã có kinh nghiệm đánh Mỹ và quen thuộc chiến trường Đường số 9.
- Lực lượng điều động mới để tham gia chiến dịch gồm có: 2 sư đoàn bộ binh (304, 320) 5 đại đội đặc công; 4 đại đội xe tăng; 2 trung đoàn pháo binh (675, 45); 1 trung đoàn pháo cao xạ (241).
Các đơn vị mới vào chiến trường nói chung đã được huấn luyện cơ bản, hệ thống; được trang bị đầy đủ (loại sư đoàn bộ binh nhẹ). Nhưng chưa có kinh nghiệm trực tiếp đánh Mỹ, chưa quen thuộc địa hình, thời tiết trong khu vực tác chiến1 (Các lực lượng tham gia chiến dịch nói trên, trong quá trình diễn biến chiến dịch, Bộ có điều một số đơn vị vào tăng cường cho chiến trường phía trong; việc đó có ảnh hưởng đến yêu cầu tập trung lực lượng của chiến dịch).
TỔ CHỨC CHỈ HUY
Ngày 6 tháng 12 năm 1967, theo quyết định của Thường trực Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường số 9-Khe Sanh được thành lập, do đồng chí Thiếu tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Quý Hai làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính uỷ chiến dịch.
Các lực lượng đang hoạt động ở khu vực Đường số 9 - Khe Sanh thuộc quyền chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh.
THỜI GIAN NỔ SÚNG
Bộ yêu cầu chiến dịch Đường số 9 - Khe Sanh phải tích cực nổ súng trước khi thực hiện đòn tiến công chiến lược (Tết Mậu Thân 1968). Ngày “N” của toàn Miền không phổ biến cho cấp chiến dịch.
II. TÌNH HÌNH ĐỊCH, ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH VÀ TÌNH HÌNH NHÂN DÂN Ở KHU VỰC ĐƯỜNG SỐ 9
1. Địch
Cuối năm 1967, trên tuyến Đường số 9, địch có 45.000 tên, trong đó có 28.000 tên Mỹ gồm 3 trung đoàn thuỷ quân lục chiến tăng cường (10 tiểu đoàn bộ binh), 9 tiểu đoàn pháo binh, 3 tiểu đoàn và 1 đại đội cơ giới.
Lực lượng trên được bố trí thành 3 khu vực:
- Khu phía đông là khu vực phòng ngự chủ yếu bao gồm các cứ điểm: 31, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Gio Linh, Quán Ngang, miếu Bái Sơn. Ở phía sau có Đông Hà, Cam Lộ và Quảng Trị hình thành phòng ngự có chiều sâu.
- Khu giữa gồm các cứ điểm: Tân Lâm, Cà Lu, 241, tác dụng nối liền giữa khu đông và khu tây, đồng thời án ngữ, ngăn chặn lực lượng của ta thâm nhập vào hướng Ba Lòng - Quảng Trị.
- Khu phía tây gồm các cứ điểm: Hương Hoá, Làng Vây, Huội San (trên Đường số 9); các cứ điểm ngoại vi Tà Cơn gồm có: Đông Tri, 832, 845… Cụm cứ điểm Tà Cơn bố trí dọc theo thung lũng Tà Cơn có diện tích chừng 2km2, lực lượng trong cụ cứ điểm có: trung đoàn 26 thuỷ quân lục chiến Mỹ và tiểu đoàn 37 biệt động nguỵ; 24 khẩu pháo và 2 trung đội xe tăng. Khi bộ đội ta tiến công chúng được cụm pháo binh căn cứ 241 trực tiếp chi viện và hoả lực không quân yểm trợ.
Nói chung, lực lượng của địch ở khu vực Đường số 9 chỉ đủ phòng ngự tại chỗ, thiếu lực lượng cơ động. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến dịch tiến công Đường số 9- Khe Sanh- Xuân- Hè 1968« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 06:40:40 am » |
2. Địa hình
Từ Cửa Việt đến biên giới Việt- Lào, địa hình chia làm 3 khu vực rõ rệt:
- Khu đông từ mép biển đến Tân Lâm là địa hình đồng bằng và mấp mô trung bình, tiện cho các loại xe cơ giới hoạt động. Có nhiều đường sá, ngoài Đường số 1 và Đường số 9, còn có Đường 75, 76 ở phía bắc Đường số 9, từ Cam Lộ đi Mai Lộc- Ái Tử và thị xã Quảng Trị có đường tỉnh lộ.
- Khu giữa từ Tân Lâm đến Rào Quán là địa hình đồi núi, xe cơ giới khó qua lại, đồi trọc nhiều, khó che giấu bộ đội, tiện cho địch quan sát từ trên không và mặt đất…
- Khu tây từ Rào Quan trở lên biên giới Việt- Lào là địa hình rừng núi, tiện che giấu bộ đội; đường sá hầu như độc đạo, ngoài Đường số 9 chỉ có thêm một vài đoạn đường nhánh (3- 5km) lên phía bắc hoặc xuống phía nam.
3. Tình hình nhân dân
Lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh của nhân dân trong khu vực Đường số 9 trong thời gian cuối năm 1967 có nét phát triển mới so với năm 1966, có thể hỗ trợ cho hoạt động quân sự:
- Vùng giải phóng nông thôn đồng bằng được củng cố và mở rộng, ta đã chiếm lĩnh một số vùng xung yếu đông dân, tạo ra nhiều bàn đạp xung quanh thị xã, thị trấn và các căn cứ lớn của địch, làm cho chúng thường xuyên bị uy hiếp. So với năm 1966, số xã làm chủ đã cở trình độ cao hơn, có chính quyền tự quản, có lực lượng du kích, lực lượng nòng cốt đấu tranh chính trị và quần chúng đều tham gia các đoàn thể cách mạng. Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ngày càng cao, có nhiều cuộc đấu tranh nổ ra quyết liệt, quần chúng đã chăn từng đoàn (chi đoàn) xe bọc thép Mỹ, không cho chúng vào càn phá xóm làng, có cuộc đấu tranh đã giải thoát được hàng chục cán bộ, du kích bị địch bao vây.
- Ở các thị xã, thị trấn, phong trào cũng phát triển tốt. Hoạt động quân sự của ta trong thị xã ngày càng tăng (7 lần đánh vào thị xã Quảng Trị). Phong trào đấu tranh của quần chúng đòi quyền dân sinh, dân chủ và lực lượng chính trị, vũ trang của quần chúng phát triển mạnh hơn trước.
- Ở miền núi, trải qua một thời gian khó khăn, nay đã được củng cố. Các mặt công tác đều thu được kết quả, nhất là đã ổn định được tư tưởng của quần chúng, củng cố lại tổ chức, phát động được phong trào bắn máy bay, diệt biệt kích, động viên được khí thế sản xuất, nhờ đó đã hạn chế được nạn đói.
Qua thực tiễn trên, ta thấy:
Về phía địch, ở Đường số 9 có cả quân Mỹ và quân nguỵ, nhưng lúc này quân Mỹ đã ngày càng đông, nếu ta đánh mạnh, địch bị diệt nhiều, chắc chắn sẽ thu hút được lực lượng lớn quân Mỹ đến ứng cứu. Tuy chúng phòng ngự trên cả hai hướng đông- tây, nhưng do nhiều nguyên nhân, địch tập trung lực lượng ở hướng đông là chủ yếu, trái lại ở hướng tây chúng chỉ đủ sức phòng ngự tại chỗ, khi bị ta cắt đoạn Đường số 9 từ Tân Lâm đến Cà Lu thì Khe Sanh sẽ bị cô lập về đường bộ, càng tăng thêm khả năng thu hút quân Mỹ.
Về phía ta, lực lượng lớn tham gia chiến dịch là các sư đoàn chủ lực của Bộ; các sư đoàn này tuy đã qua huấn luyện cơ bản nhưng khả năng đánh địch trong công sự vững chắc còn có hạn, nên việc đánh điểm phải cân nhắc và có chuẩn bị chu đáo. Với điều kiện địa hình rất khác nhau giữa hướng đông và hướng tây, rõ ràng hướng tây hạn chế được chỗ mạnh của địch, lại phát huy được sở trường của ta…
Đó là những cơ sở thực tiễn để Bộ Tư lệnh hạ quyết định chiến dịch. |
|
|