CHIẾN KHU Đ VÀ CHIẾN THẮNG TRẬN THÁP CANH CẦU BÀ KIÊN
Họ và tên: Trần Thị Phương Thảo
Lớp: ĐHCQ 20A
Mã sinh viên: 2400505
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
BÀI DỰ THI
CHIẾN KHU Đ VÀ CHIẾN THẮNG TRẬN THÁP CANH CẦU BÀ KIÊN
Trong dòng chảy lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam, có những địa danh đã trở thành biểu tượng bất tử cho ý chí kiên cường và tinh thần quyết chiến quyết thắng. Một trong số đó chính là Chiến khu Đ – “thủ đô” kháng chiến của miền Đông Nam Bộ. Ngày nay, di tích lịch sử này tọa lạc tại xã Đất Cuốc, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia vào năm 2010.
Chiến khu Đ ra đời vào những ngày cuối tháng 2 năm 1946, trong bối cảnh thực dân Pháp chiếm đóng quận lỵ Tân Uyên, tổng hành dinh khu 7 và lực lượng vũ trang biên hoà phải rút sâu vào rừng để xây dựng căn cứ. Các cơ quan, đơn vị, công xưởng… phân chia đóng từng khu vực. Mỗi khu vực mang một mật danh A, B, C, D. Theo đồng chí Võ Bá Nhạc nguyên chánh văn phòng Khu bộ Khu 7 thì: A là căn cứ giao thông liên lạc đóng ở Giáp Lạc, B là căn cứ hậu cần đóng ở Thường Lang, C là khu vực bộ đội thường trực đóng ở sở Ông Đội, Đ là tổng hành dinh Khu 7 đóng ở Ngãi Hoang.Tên gọi “Đ” cho đến nay vẫn mang trong mình nhiều lý giải thú vị. Có ý kiến cho rằng “Đ” là viết tắt của Đất Cuốc – nơi bộ đội Huỳnh Văn Nghệ xây dựng cứ điểm đầu tiên. Xa hơn thế, chữ Đ còn tượng trưng cho Đỏ (chiến khu Đảng), cho Đồng Nai, cho miền Đông hay là chiến khu Đầu tiên. Dù hiểu theo cách nào, cái tên ấy đã đi vào sử sách như một niềm tự hào của quân và dân ta.
Với những đặc điểm địa hình hiểm trở, Chiến khu Đ nằm trong hệ thống rừng núi, địa hình hiểm trở, lưng dựa vào dãy Trường Sơn và rừng núi miền Nam Đông Dương, gắn với một phần đoạn cuối đường Hồ Chí Minh; nằm trên triền đất thoai thoải từ chân cao nguyên miền Trung chạy về phía Nam và biên giới Campuchia, xuống giáp cận thành phố Sài Gòn và những đô thị lớn thuộc tỉnh Biên Hòa (nay là Đồng Nai), Thủ Dầu Một (nay là Bình Dương).Chiến khu Đ sở hữu một vị trí chiến lược “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”. Đây là cầu nối quan trọng vận chuyển nhân lực, vật lực từ hậu phương lớn miền Bắc vào Nam Bộ, đồng thời là “bàn đạp” tấn công trực diện vào các mục tiêu chính trị, quân sự của địch tại Sài Gòn và các tỉnh miển Đông Năm Bộ.
Tuy nhiên, để giữ vững căn cứ, cha ông ta đã phải vượt qua những rào cản khắc nghiệt của thiên nhiên. Tại nơi đây, bộ đội ta phải chịu sự hoành hành của dịch bệnh, thú dữ, bom đạn và cái đói quay quắt. Thế nhưng, chính trong gian khổ, khẩu hiệu “Chiến khu Đ còn, Sài Gòn mất” đã trở thành lời thề sắt đá, khiến kẻ thù phải khiếp sợ.
Chiến khu Đ không chỉ là nơi trú ẩn mà còn là “lò luyện thép” của cách mạng, đồng thời là nơi xuất kích những trận đánh địch của quân và dân ta: Trận Bảo Chánh (5/1947), trận đánh Trảng Táo (tháng 6/1947), Bảo Chánh 2 (tháng 6/1947), trận Bàu Cá (7/1947), trận Đồng Xoài (12/1947), La Ngà (3/1948), trận đánh chiến thắng Tua Hai (Tây Ninh) (1/1960), trận tiến công diệt tiểu khu Phước Thành (9/1961), trận tập kích bằng pháo vào sân bay Biên Hòa (10/1964) Đây)....Và tiêu biểu hơn đây còn là nơi khai sinh ra lối đánh đặc công huyền thoại với trận tháp canh cầu Bà Kiên (3/1948), mở ra một nghệ thuật quân sự độc đáo của Việt Nam.
“Chiến khu Đ còn, Sài Gòn mất” – câu nói ấy từ lâu đã trở thành biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của căn cứ địa cách mạng miền Đông Nam Bộ. Trong dòng chảy lịch sử đầy tự hào của vùng đất này, nếu Chiến khu Đ là trái tim của kháng chiến, thì trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên chính là phát pháo lệnh mở đầu cho một lối đánh độc đáo, mưu trí, khai sinh ra một binh chủng đặc biệt của Quân đội nhân dân Việt Nam: Binh chủng Đặc công.
Vào đầu năm 1948, thực dân Pháp triển khai chiến thuật De Latour, dựng lên hàng trăm tháp canh kiên cố dọc các tuyến lộ huyết mạch nhằm siết chặt vòng vây, cắt đứt đường tiếp tế của ta vào Chiến khu Đ. Tháp có hình vuông, mỗi cạnh từ 4 – 5m, tường dày từ 0,5 – 0,8m, cao từ 8 – 10m, được xây bằng đá hoặc gạch nung. Xung quanh tháp canh được bao bọc bởi lũy đất dày, có nhiều lỗ châu mai, hàng rào kẽm gai và chông mìn dày đặc… Mỗi tháp canh được bố trí cách nhau khoảng 1km để có thể báo hiệu và chi viện cho nhau nếu bị tấn công.
Giữa bối cảnh đầy khó khăn ấy, người con ưu tú của đất Tân Uyên – Đại tá Trần Công An (Hai Cà) – đã dùng trí tuệ và lòng quả cảm để tìm lời giải. Không có đại bác để phá tường thành, ông chọn cách đánh “lấy ít địch nhiều, lấy tinh nhuệ thắng thiện chiến”. Đội du kích của ông đã kiên trì khổ luyện trong rừng sâu, dùng bùn non bôi khắp người để ngụy trang, tập cách bò vào chân tháp và leo thang tre bí mật đến mức lính gác trên cao không thể phát hiện.
Đêm 18 rạng sáng ngày 19-3-1948 đã trở thành thời khắc lịch sử.Ông Hai Cà chỉ huy một tổ gồm 2 du kích Trần Văn Nguyên và Hồ Văn Lung bí mật xâm nhập trận địa. Phía bên ngoài, ông cử 2 du kích Nguyễn Văn Ai và Trần Văn Hỏi làm nhiệm vụ cảnh giới. Nhờ ngụy trang tốt và giữ được yếu tố bất ngờ, cả 3 người xâm nhập thành công vào trận địa cùng với chiếc thang dùng để leo tường.
Theo sự phân công, du kích Nguyên leo lên tầng tháp trên, du kích Lung leo lên tầng giữa, ông Hai Cà ở tầng dưới vừa đánh vừa chỉ huy, mỗi người thống nhất ném vào mỗi lỗ châu mai 3 quả lựu đạn. Sau khi ném 3 quả lựu đạn, nghi bọn địch chưa chết hết, ông Hai Cà “tặng” chúng thêm một khối thuốc nổ. Sức nổ quá mạnh khiến ông bị thương, nhưng trận đánh đã giành thắng lợi lớn, ta tiêu diệt 11 tên địch, thu 8 súng và 20 lựu đạn .Với sự phối hợp nhịp nhàng và lòng dũng cảm vô song, tổ đánh của ông Hai Cà đã tạo nên chiến thắng cho quân ta.Chiến thắng vang dội này không chỉ bẻ gãy một mắt xích trong chiến thuật De Latour mà còn khẳng định một tư duy quân sự mới: Lối đánh đặc công – bí mật, bất ngờ, đánh hiểm, thắng lớn.
Từ kinh nghiệm xương máu tại cầu Bà Kiên, ngày 19-3 đã được chọn là ngày truyền thống của lực lượng Đặc công Việt Nam – những chiến sĩ “chân trần, chí thép”. Tinh thần ấy đã trở thành ngọn đuốc soi đường, từ những trận đánh tháp canh thô sơ đến những chiến công lẫy lừng khắp hai miền Nam – Bắc.
Trận đánh cầu Bà Kiên sẽ mãi là một nốt son chói lọi, nhắc nhở chúng ta rằng: Dù kẻ thù có kiên cố đến đâu, trước ý chí quật cường và trí tuệ Việt Nam, mọi bức tường thành đều phải đổ xuống, để “Chiến khu Đ” mãi mãi vững vàng trong lòng dân tộc.
Ngày nay, để tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những người anh hùng anh dũng, kiên cường, bất khuất, thông minh, tài trí, di tích lịch sử tháp canh cầu Bà Kiên đã được xây dựng và tôn tạo trang nghiêm giữa lòng Chiến khu Đ.Tại đây, bia tưởng niệm khắc bức phù điêu 3 chiến sĩ du kích. Bên trái khắc dòng chữ Bác Hồ đã khen tặng: “Tân Uyên – Chiến khu Đ trở thành nơi khởi phát, thành quê hương của cách đánh đặc công”không chỉ là minh chứng cho trí tuệ quân sự sắc bén, mà còn là nhịp cầu nối liền quá khứ hào hùng với hiện tại.
Giờ đây khi đất nước đã hoà bình, hoà bình ấy đã được đánh đổi bởi xương máu, bởi những ý chí sắt đá, bởi những tinh thần anh dũng, kiên cường, quả cảm, bởi những trái tim cháy bỏng ngọn của nỗi khát khao tự do dân tộc, bởi những trí óc với lý tưởng cách mạng vĩ đại. Qua đó, ta lại càng thấy hoà bình quý giá đến nhường nào, đáng trân trọng, gìn giữ biết bao, càng thấy tự hào hơn về tình yêu nước, yêu đồng bào, dân tộc của ông cha ta ngày xưa. Từ đó thế hệ con cháu sau này như chúng ta cần phải có ý thức trân trọng những gì mình đang có hiện tại đó là sự độc lập, sư tự do, sự hạnh phúc. Phải biết ơn những cống hiến của các anh hùng đã có công bảo vệ, giữ gìn, xây dựng Tổ quốc. Có ý thức bảo toàn, duy trì bản sắc dân tộc. Có tinh thần chủ động học hỏi, tu dưỡng đạo đức, hiểu biết đúng về lịch sử và đia lí nắm vững các cơ sở pháp lý về chủ quyền quốc gia. Phải làm sao để trong mỗi chúng ta đều là một mắt xích, một phân tử quan trọng góp phần xây dựng đất nước vững mạnh, văn minh ngày càng văn minh, tốt đẹp ngày càng tốt đẹp, đoàn kết ngày càng đoàn kết.



