Chiến khu Đá Bàn
Chiến Khu Đá Bàn là một trong chiến trường oanh liệt khu vực Khánh Hòa
Chiến khu Đá Bàn xưa là nơi tôi luyện tinh thần và ý chí của người chiến sĩ. Cũng chính tại đây đã từng chôn vùi uy danh một số tướng lĩnh nhà nghề của đội quân xâm lược. Đá Bàn nay như một nàng công chúa ngủ say, đang chờ chàng hoàng tử là ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa đến đánh thức...
Trong hai cuộc kháng chiến, tỉnh Khánh Hòa đã xây dựng được một số căn cứ địa: Đồng Bò (Nha Trang), núi Ba Cụm (Khánh Sơn), Hòn Dù (Khánh Vĩnh), Hòn Dữ (Diên Khánh). Tuy nhiên, chiến khu Đá Bàn là khác biệt, do núi cao, đường đi khó khăn, cho đến hôm nay vùng rừng núi này vẫn còn hoang sơ, không có dân cư sinh sống. Những người có mặt ở chiến khu Đá Bàn năm xưa, nay đã trở về cuộc sống đời thường. Số đông là người của các địa phương Ninh Hòa, Vạn Ninh và TP Nha Trang. Để tái hiện cuộc chiến đấu ngày ấy ở chiến khu huyền thoại này không mấy khó khăn. Ngành du lịch tỉnh nên phối hợp với các cựu chiến binh đã từng có mặt ở chiến khu ngày ấy. Đây cũng là một cách để đa dạng hóa các loại hình du lịch của tỉnh nhà trong tương lai. Chúng ta chỉ cần đặt mấy chục cây cờ hiệu, cho những người lần đầu mới đến biết nơi làm việc của cơ quan lãnh đạo tỉnh, các đơn vị chuyên môn: Kinh tài, binh vận, quân bưu, quân giới, an ninh, quân y, bệnh xá... và cả những trận kịch chiến giữa quân ta với quân địch trong vùng đất tưởng như thanh bình này. Tôi thực sự ấn tượng đặc biệt với những người làm công tác binh vận ở Đá Bàn ngày ấy.
Sau khi sư đoàn Bạch Mã có mặt tại Ninh Hòa, cấp trên đã điều động một số đồng chí được đào tạo tiếng Hàn tham gia Ban binh vận. Công việc của các đồng chí ấy là viết truyền đơn bằng tiếng Hàn, rồi in ly-tô ra nhiều bản. Số truyền đơn ấy đã được các đội công tác vũ trang địa phương rải ngoài hàng rào của căn cứ địch. Công việc này kéo dài tới cuối tháng 1-1973, khi Hiệp định Paris có hiệu lực mới kết thúc. Ấn tượng thứ hai là Ban kinh tài tỉnh đã lập được một đường dây từ chiến khu với cơ sở bí mật tại thị xã Nha Trang để chuyển đổi ngoại tệ ra tiền Việt. Nguồn ngoại tệ này từ miền Bắc chuyển vào qua đường Trường Sơn để chi viện cho các chiến trường, trong đó có tỉnh Khánh Hòa. Hồi bấy giờ, tuy gọi là hai vùng, nhưng vùng do mặt trận kiểm soát và vùng do chính quyền Sài Gòn tạm thời quản lý cũng dùng chung một loại tiền. Các nhu cầu thiết yếu ở chiến khu, như: Thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm luôn phải có một lượng dự trữ tối thiểu. Nhờ tài trí của mình, ngành kinh tài tỉnh đã làm được một việc tưởng như không thể làm nổi và đã thành công. Nơi đây, có cả những câu chuyện thật lãng mạn. Giữa đại ngàn Trường Sơn, khi cuộc chiến vừa im tiếng súng, một số cặp tình nhân đã tổ chức ngày hạnh phúc, rồi họ nên vợ, nên chồng. Sự sống và cái chết ngày ấy chỉ trong gang tấc nhưng cũng không thể ngăn cản tình yêu đôi lứa.
Để tận mắt ngắm cảnh thiên nhiên độc đáo nơi đây, nên mở một số lối vào trong căn cứ mà không ảnh hưởng đến cảnh quan, tức là không được dùng phương tiện cơ giới. Cách di chuyển tốt nhất là giống như người lính chúng tôi ngày xưa vậy. Từ trung tâm căn cứ, chúng tôi có thể đi lại một cách bình thường, để đến: Hướng bắc là Dốc Mỏ, hướng đông Hòn Hèo, hướng nam chân đèo Phượng Hoàng, nơi có cầu Suối Chình (xã Ninh Tây). Từ trong chiến khu ngày ấy đã hình thành một con đường giao liên chạy song song với Đường 21, lên tận kho hàng của Đoàn 559 tại huyện Ea Súp, tỉnh Đắc Lắc mà chúng tôi đã từng đặt chân đến. Các ngả đường để đến Chiến khu Đá Bàn xưa là khá phong phú nhưng đoạn đường tiện lợi hơn cả là từ Ngã tư Đá Bàn-Hòn Khói-Quốc lộ 1, gần ga Hòa Huỳnh. Từ đây vào đến thung lũng Đá Bàn hơn 10km, qua hồ thủy lợi cùng tên, là khách du lịch tha hồ khám phá.



