Chiến khu Dương Hòa và ký ức sông Hai Nhánh
Đọc được bài báo "Sông Hai Nhánh - dấu ấn hào hùng" của nhà báo Phạm Hữu Thu (đăng trên Báo Thừa Thiên Huế số: 9122 và 9123 ra các ngày 25, 26/4/2024), chúng tôi chợt nhớ mấy câu thơ trong trường ca “Mặt đường khát vọng" của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Họ đã sống và chết, giản dị và bình tâm. Không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ đã làm nên đất nước”.
Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã đi qua gần nửa thế kỷ, đất nước đã thay da đổi thịt từng ngày, cuộc sống của mọi người đã có nhiều khởi sắc nhưng đâu đó trong khuất nẻo mỗi người, ký ức về cuộc chiến tranh khốc liệt với những đau thương, mất mát còn ám ảnh từng ngày. Cái giá của hòa bình, hạnh phúc ngày hôm nay phải đổi bằng biết bao xương máu của cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân ta. Câu chuyện mà nhà báo Phạm Hữu Thu đề cập diễn ra trong thời điểm từ khoảng năm 1960 đến 1970 ở địa phận xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy. Theo tác giả, “trước khi đổ về sông Tả Trạch, khe La Ma chia làm đôi dòng, dân gian lấy đặc điểm này để đặt tên sông là Hai Nhánh. Vì là nơi hẹp và cạn nhất nên trong chiến tranh, ta chọn vùng Hai Nhánh làm điểm vượt sông. Cán bộ, chiến sĩ từ hậu cứ về hoặc từ đồng bằng lên đều vượt qua quãng sông này… Quân đội Mỹ đã chọn cồn nổi ở cuối sông Hai Nhánh để lập căn cứ 229, dùng pháo để bắn phá khu vực xung quanh, tung quân kiểm soát sông Hai Nhánh”. Thông qua các nhân chứng và tài liệu thu thập, tác giả đã thuật lại những hy sinh vô cùng to lớn của cán bộ, chiến sĩ ta khi phải vượt qua “tọa độ” chết chóc này. Bài viết có đoạn: “Khi cả đoàn đang vượt sông thì bị máy bay Mỹ ném bom làm 40 chị hy sinh, do bị nước cuốn trôi, không tìm được thi thể”. Nhiều người không thể kìm nén xúc động khi đọc được những dòng này. Ông Hồ Xuân Mãn, nguyên Ủy viên BCH Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế chia sẻ trong lá thư gửi lãnh đạo tỉnh và các ngành chức năng của tỉnh: “Là người trong cuộc và trực tiếp chứng kiến, tôi kính đề nghị các đồng chí tiếp tục nghiên cứu, lập hồ sơ công nhận địa điểm sông Hai Nhánh là di tích lịch sử cách mạng, qua đó lập đền tri ân những cán bộ, chiến sĩ đã vì nước quên thân nhằm góp phần giáo dục truyền thống cách mạng của cha ông cho thế hệ hôm nay và mai sau. Kính mong các đồng chí lưu tâm”. Theo thông tin chúng tôi được biết, hiện Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế đã chỉ đạo Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng phối hợp với thị xã Hương Thủy nghiên cứu, khảo sát, điều tra xác nhận thông tin. Tiến hành gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, tổ chức hội thảo khoa học và thu thập hồ sơ chứng cứ từ các nhân chứng sống, những người trong cuộc để báo cáo UBND tỉnh và lãnh đạo tỉnh trong thời gian sớm nhất. Được biết, xung quanh bán kính gần khu vực sông Hai Nhánh hiện có 2 di tích lịch sử cách mạng đã được công nhận, đó là: Di tích Địa điểm chợ kháng chiến và di tích Địa điểm chiến khu Dương Hòa. Hiện nay địa điểm sông Hai Nhánh chưa nằm trong danh mục các điểm có giá trị văn hóa lịch sử được UBND tỉnh phê duyệt. Khi được công nhận thì di tích địa điểm sông Hai Nhánh sẽ nằm trong cụm di tích lịch sử cách mạng tại vùng chiến khu xưa, là địa chỉ đỏ về nguồn của các thế hệ hôm nay và mai sau. Nhà báo Phạm Hữu Thu thổ lộ: “Những ai trân quý quá khứ hào hùng của dân tộc, nhớ về những người đã hy sinh có thể ghé thuyền dâng một nén hương vì cần biết rằng dưới làn nước xanh thẳm kia là xương cốt của nhiều liệt sĩ mà đến nay thân nhân họ không còn cơ hội kiếm tìm”. Hy vọng là mong ước đó của những người hôm nay sẽ trở thành hiện thực trong một ngày không xa. Lịch sử Đảng bộ huyện Tiên Phước còn ghi: để thực hiện đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, lực lượng vũ trang tỉnh từng bước được khôi phục và phát triển. Đến cuối năm 1961, các Đại đội bộ binh H21, H20, H36 lần lượt ra đời, đủ điều kiện độc lập tác chiến, mở rộng căn cứ miền núi, tạo bàn đạp tiến xuống đồng bằng. Thực hiện chủ trương của Khu ủy, Tỉnh ủy, Tỉnh đội Quảng Nam đã chọn hai xã Tiên Lãnh, Tiên Ngọc - nơi có ưu thế về địa hình, nhân dân ở đây bị kìm kẹp, tha thiết mong muốn được cách mạng về giải phóng; qua đó, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, làm nơi đứng chân lâu dài.Ngày 27.10, Đại đội H21 làm lễ xuất quân tại Nước Oa (huyện Trà My) với quyết tâm vượt sông Tranh giải phóng Lãnh - Ngọc. Ngay khi áp sát bờ tây sông Tranh, Đại đội H21 phối hợp với Đội công tác Tiên Lãnh tổ chức ngay đội hình chiến đấu, giao nhiệm vụ cho từng trung đội, triển khai phương án vượt sông. Ngày 29.10, tại bến đò Nà Ráy - khu vườn Du, 5 chiếc thuyền dưới sự chỉ huy của cô Ba Sừng (tức bà Trịnh Thị Kim Lan) xuất kích ngay trong đêm mưa. Dẫu mưa lớn, nước sông chảy xiết nhưng với nỗ lực, quyết tâm của nhân dân Lãnh – Ngọc, Trung đội 45 của ta đã nhanh chóng sang sông an toàn, bí mật. Ngay sau đó, Trung đội 45 nhận nhiệm vụ chia thành 2 mũi tiến công, hình thành thế bao vây, áp đảo quân địch; đồng thời yểm trợ cho Trung đội 39 và 17 tiếp tục vượt sông. Trước thế bao vây, áp đảo của lực lượng ta, Trung đội Tổng đoàn dân vệ đã nhanh chóng rơi vào thế bị động, cô lập, binh lính địch hoảng loạn, bỏ chạy về các thôn 8, 9 Tiên Lãnh thoát thân. Thừa thắng, lực lượng cách mạng triển khai phương án tác chiến mới, tổ chức truy kích địch lên hướng thôn 8, thôn 9, đánh thẳng vào hội đồng tề ở các thôn. Đến ngày 31.10.1961 lực lượng cách mạng đã tiêu diệt, làm tan rã hoàn toàn quân địch ở xã Tiên Lãnh; lực lượng tổng đoàn của địch đã phải rút chạy về Trụ sở hội đồng thôn 2, Tiên Ngọc và Tiên Lãnh được hoàn toàn giải phóng. Trong khí thế chiến thắng, ngày 2.11.1961, lực lượng của ta đã chia thành 2 mũi tiến công xã Tiên Ngọc, bọn địch ở đây hoảng loạn bỏ trụ sở hội đồng tháo chạy về Quận lỵ Tiên Phước, Tiên Ngọc được hoàn toàn giải phóng. Để chống địch phản kích, bảo vệ thành quả cách mạng, các đoàn thể cách mạng được hình thành, nhân dân nhanh chóng cuộc sống mới; đồng thời, tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan của Tỉnh ủy, Huyện ủy và các đơn vị vũ trang đứng chân hoạt động. Các đơn vị du kích của 2 xã được thành lập, thường xuyên luyện tập, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bộ đội chủ lực trực chiến ngày đêm, sẵn sàng đánh bại các cuộc hành quân phản kích với quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Trung tướng Trịnh Đình Thạch - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 5 nhận định: “Vượt sông Tranh, giải phóng Tiên Lãnh, Tiên Ngọc không chỉ đơn thuần là vượt qua một dòng sông để đánh địch, giải phóng vùng địch chiếm đóng, nó còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn là khẳng định sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang Quảng Nam, đã đủ thế và lực để tự lực tổ chức tiến công vào vùng địch tạm chiếm, tiêu diệt mắc xích yếu nhất trong hệ thống phòng ngự của địch. Chiến dịch thắng lợi là minh chứng sinh động cho sự đúng đắn, phù hợp của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (mở rộng), đánh dấu kết thúc thời kỳ địch liên tục mở rộng địa bàn chiếm đóng về phía tây, mở ra thời kỳ mới, ta liên tục tiến công, mở rộng căn cứ, đưa căn cứ tiến dần xuống đồng bằng, đô thị, phù hợp với xu hướng phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng, toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính. Do vậy, chỉ giải phóng 2 xã Tiên Lãnh, Tiên Ngọc nhưng sự kiện lịch sử này có ý nghĩa to lớn trong việc cổ vũ, động viên, hiệu triệu nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và cả Quân khu 5 xông lên đồng khởi, diệt ác, phá kèm”. Những ngày giữa tháng 10.2021, chúng tôi cùng tìm về Tiên Lãnh, gặp lại cô Ba Sừng - người đã chỉ huy tổ công tác nữ dùng thuyền đưa bộ đội vượt sông an toàn, đưa chiến dịch đi đến thắng lợi. Cô Ba Sừng - cái tên nghe gan góc như chính người phụ nữ chèo đò đưa bộ đội vượt sông giữa đêm mưa. Cô tên thật là Trịnh Thị Kim Lan (SN 1942), sinh ra và lớn lên trên vùng quê Tiên Lãnh (Tiên Phước). Chứng kiến quê hương bị địch càn quét tàn phá, người phụ nữ này quyết tâm tham gia cách mạng. Cô Ba Sừng kể: Ngày 28.10.1961, bà nhận nhiệm vụ về sống trong lòng địch, nắm tình hình địch để báo cho cách mạng. Sáng ngày 29.10.1961, bà nhận tin báo phải đưa bộ đội vượt sông Tranh trong đêm để đánh vào đồn địch. Thời điểm đó, dù không có đò nhưng bà lén đi lấy 5 chiếc đò của người dân. Lén, là bởi không liên lụy đến người dân có đò nếu bị địch phát hiện. Giải phóng Lãnh - Ngọc không chỉ thu được những thắng lợi về quân sự mà còn là những kinh nghiệm quý báu trong giai đoạn “đồng khởi”. Đó là vận dụng đường lối chiến tranh nhân dân với phương châm “hai chân ba mũi giáp công đánh địch”. Tiên Lãnh - Tiên Ngọc cũng trở thành vùng hậu cứ vững chắc, vùng “đất thánh” của cách mạng Khu V, của Tỉnh ủy, tạo điều kiện để ta tiếp cận và mở rộng vùng giải phóng; đem lại những thuận lợi mới cho cách mạng, tạo hành lang xuyên suốt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.



