Bài viết

Chiến sĩ quyết tử của khu Đồng Xuân

Ninh Bình05/05/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mồ côi mẹ khi mới lên bốn ở quê hương Đông Khúc, tổng Xuân Cầu, nay là xã Vĩnh Khúc, huyện Văn Giang,cậu bé Đặng Văn Nguyên được người nhà đưa lên Hà Nội. Tuổi thơ Nguyên trôi đi với nhữnh năm tháng đi ở ẵm em, bán kem, đánh giầy khắp các ngõ phố của Hà thành hoa lệ. Không có trang vở thơm mùi giấy mới, không có kỷ niệm tuổi học trò, dù chỉ là trường cho con nhà nghèo, Nguyên kiếm sống nhọc nhằn. Vì thế, ông đến với cách mạng như một lẽ tất nhiên để thoát kiếp sông nô lệ đòn roi, được cơm no áo ấm, tung cánh trong bầu trời tự do và sống trong tình đồng đội ấm áp như anh em ruột thịt.

Tiểu đội của ông có đủ các gương mặt học sinh công tử bột, đàn hát rất giỏi, thanh niên làm đủ các nghề ở các khu phố, do ông Thụy Ứng làm Tiểu đội trưởng (sau này, Thụy Ứng là dịch giả dịch nhiều tác phẩm văn học Nga, trong đó có tác phẩm

Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp).

Sau một tháng bám trụ chiến đấu ở phía bắc liên khu, ông Nguyên cùng nhiều đồng đội ra hậu phương theo đường công khai của dân tản cư ngày 15/1/1947như thoả thuận giữa ta và Pháp. Ông ở Hà Đông, Hà Tây(cũ), xuống Nam Định hoạt động rồi lại được trở về Hà Nội chiến đấu.Ấy là năm 1949, khi quân dân Hà Nội thực hiện chỉ thị của Trung ương chuẩn bị chiến trường, tiến tới Tổng phảncông. Lực lượng vũ trang ở căn cứ gấp rút được củng cố lại thành Tiểu đoàn 108. Sau khi nhận được tin tức và sơ đồ cống ngầm do đồng chí Hải cóc (tức ông Chu Duy Kính) làm phu trong sân bay thoát ra báo cáo lại Ban chỉ huy Mặt trận, Chỉ huy trưởng Mặt trận Phùng Thế Tài quyết định chọn lựa những chiến sĩ gan dạ, quả cảm, mưu trí để tập dượt đánh mục tiêu quân sự quan trọng trong nội thành-sân bay Bạch Mai.Tôi đã từng nghe các ông Phùng Thế Tài, Chu Duy Kính và những cựu chiến binh tham gia đánh sân bay Bạch Mai phát biểu trong buổi lễ gắn biển di tích tại sân bay năm 2000, nhưng hôm nay, tôi mới được nghe kỹ hơn những chi tiết trong quá trình luyện tập, lên sa bàn ở nơi huấn luyện và cuộc hành quân thần tốc, bí mật từ Sà Kiều (Hà Tây cũ ) rồi vào làng Lủ (Hà Nội) qua hồi ức của người lính già: “Trên bãi luyện tập ở Mỹ Đức, chúng tôi không hình dung được máy bay cao chừng nào, cứ kiệu nhau lên mà tập ném mìn, khi vào rồi mới thấy máy bay Đa-kô-ta và Spit-phai thấp tè. Mìn đánh máy bay là loại mìn chai, anh Chính mua vỏ chai sâm banh về nhồi thuốc nổ vào.Chiều 17/1/1950 bắt đầu hành quân, chúng tôi đánh bộ quần áo nâu, khoác bị đựng mìn và lựu đạn; mọi thứ đều rất thô sơ như vậy đấy. Nhờ du kích địa phương dẫn đường, chúng tôi chia làm ba mũi tập kết gần sân bayvà đột kích theo ba hướng khác nhau . Mũi 1 có 18 chiến sĩ và một du kích xã do anh Hà Giáp chỉ huy, từ đường cống ngầm chui lên. Mũi 2 có 8 chiến sĩ và 2 du kích do anh Trần Thành chỉ huy theo bờ đầm vào sân bay.Mũi 3 có 6 chiến sĩ và xã đội phó du kích do Trung đội trưởng Tráng chỉ huy có nhiệm vụ đốt kho xăng. Cũng rất may là đêm đó, sương mù dày đặc nên chúng tôi trèo lên máy bay thả mìn mà đèn pha của địch không phát hiện được. Anh Khang “cà phê” khi trèo lên đặt mìn bị ngã trẹo chân rồi lạc đường không ra được, đã hi sinh. Còn chúng tôi ngay đêm đó lại cấp tốc hành quân về chợ Cháy.Trên đường rút ra bà con đã chuẩn bị sẵn xôi, cơm nắm cho chúng tôi rất chu đáo.Toàn đội được Chính phủ tặng thưởng ngay Huân chương chiến công hạng Ba.Anh Ngô Duy Biên rất phấn khởi sáng tác luôn bài hát, và ông cất giọng khàn khàn “Đêm âm u nằm trong sương mù từng đoàn phi cơ,đang nằm im trên bãi cỏ xanh…”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn